Ung thư Vú

Tổng quan

TRONG TRANG NÀY: Bạn sẽ tìm thấy những thông tin cơ bản về bệnh ung thư vú và những bộ phận của cơ thể có thể bị ảnh hưởng. Đây là bài viết đầu tiên tổng quan về căn bệnh ung thư vú. Để xem thêm những bài viết tiếp theo, bạn sử dụng thanh menu trên trang web để tìm kiếm danh mục và bài viết cần thiết.

Ở Mỹ, ung thư vú là căn bệnh phổ biến nhất ở nữ. Đàn ông cũng có thể bị ung thư vú, tuy nhiên ung thư vú ở nam hiếm gặp, con số là dưới 1%.

VỀ MÔ HỌC CỦA VÚ:

Vú là cơ quan được tạo nên từ một mô đặc biệt, từ cấu trúc mô mỡ cho đến những mô rất đặc. Bên trong những mô này là hệ thống rất nhiều thùy tuyến, chúng được tạo thành bởi các cấu trúc ống nhỏ gọi là tiểu thùy chứa các tuyến sữa. Nhứng ống nhỏ kết nối các tuyến sữa, tiểu thùy, thùy tuyến, vận chuyển sữa từ thùy tuyến đến nums vú. Mạch máu và mạch bạch huyết chạy khắp các mô vú, mạc máu nuôi tế bào vú còn mạch bạch huyết thu gom những rác thải sau quá trình chuyển hóa. Mạch bạch huyết kết nới với các hạch bạch huyết, những hạch nhỏ hình hạt đậu giúp chống lại viêm nhiễm.

VỀ UNG THƯ VÚ:

Ung thư bắt đầu khi những tế bào khỏe mạnh trong vú thay đổi và phát triển một cách không kiểm soát, bắt đầu tạo thành một khối u nhỏ. Một khối u có thể u ung thư hoặc lành tính.

ung-thu-vu

ung-thu-vu

Một khối u ung thư là khối u ác tính, nghĩa là nó có thể phát triển, di căn đến các cơ quan khác trong cơ thể. Một khối u lành tính nghĩa là khối u có thể phát triển nhưng không có di căn. Ung thư vú di căn khi ung thư lan tỏa ra các bộ phận khác của cơ thể hoặc khi tế bào ung thư di chuyển đến những phần khác của cơ thể thông qua hệ thống mạch máu hoặc hạch bạch huyết. Quá trình di chuyển đó gọi là di căn. Ung thư vú thường di căn theo hạch bạch huyết vùng. Hạch bạch huyết vùng nằm ngay dưới cánh tay, trong cổ, phía dưới xương ngực hoặc trên xương quai gánh.

Khi ung thư bắt đầu di căn xa trong cơ thể, thường đi đến xương, phổi, gan. Một số khác đi đến não.

Khi ung thư tái phát sau khi điều trị ban đầu, ung thư có thể lặp lại tại khu vực cũ, nghĩa là trong vú hoặc khu vực hạch bạch huyết vùng. Nó cũng có thể tái phát ở một số vị trí khác trong cơ thể, gọi là di căn xa.

PHÂN LOẠI UNG THƯ VÚ:

Đa số ung thư vú bắt đầu từ các tuyến hoặc tiểu thùy. Có 2 loại phổ biến nhất được gọi là: ung thư biểu mô ống động mạch và ung thư tiểu thùy vú:

  • Ung thư biểu mô ống động mạch: Loại ung thư này bắt đầu từ lớp tế bào lót của ống dẫn sữa và tạo nên loại ung thư vu phổ biến nhất.
  • Ung thư biểu mô ống động mạch khu trú: Loại ung thư này mới chỉ khu trú bên trong các ống động mạch.
  • Ung thư biểu mô vú xâm lấn: Loại ung thư đã lan ra bên ngoài các ống
  • Ung thư tiểu thùy vú: Loại ung thư này xuất phát từ các tiều thùy.
  • Ung thư tiểu thùy vú khu trú: Chỉ khu trú trong các tiểu thùy, loại này chưa được xem là ung thư tuy nhiên đây cũng là nguy cơ phát triển thành ung thư vú xâm lấn trong tương lại ở cả 2 vú.
  • Ung thư tiểu thùy vú xấm lấn: Là loại ung thư đã lan ra ngoài thùy

Một số loại ung thư vú khác:

  • Ung thư dạng tủy ở vú
  • Ung thư biểu mô dịch nhầy ở vú
  • Ung thư biểu mô sợi ống tuyến vú
  • Ung thư vú chuyển sản
  • Ung thư biểu mô dạng nhú ở vú
  • Ung thư vú dạng viêm là loại ung thư vú phát triển rất nhanh, tuy nhiên chỉ chiếm 1% đến 5% trong số những ca ung thư vú.

Bệnh Paget của vú là một loại ung thư hiếm gặp liên quan đến da của núm vú và quầng vú.

CÁC PHÂN NHÓM UNG THƯ VÚ

Bệnh ung thư vú là bệnh phức tạp, không phải chỉ một dạng bệnh mà rất nhiều dạng. Thông thường, ung thư vú được chia làm 3 phân nhóm chính, những thụ thể đặc hiệu trên các tế bào ung thư giúp xác định phân loại vào nhóm nào.

Dương tính thụ thể Hormone:Ung thư vú có biểu hiện receptor Estrogen (ER) và progesterone receptors (PR) thì được gọi là dương tính với hormone.

Loại ung thư này dựa vào hocmon estrogen và/hoặc progesteron để sống. Ung thư vú dương tính nội tiết có thể xảy ra ở bất cứ lứa tuổi nào nhưng tỷ lệ cao hơn ở phụ nữ sau mãn kinh. Có đến 60-75% trường hợp ung thư vú là dương tính nội tiết tố.

Dương tính HER2: Khoảng 20-25% ung thư vú có nguyên nhân từ GEN gọi là HER2. Gen HER2 tạo ra 1 protein, loại protein tìm thấy trong tế bào ung thư và đóng vai trò rất quan trong trong sự tăng trưởng của tế bào ung thư. Loại ung thư này có xu hướng phát triển rất nhanh. Một số thuốc có tác dụng rất hiệu quả trên loại ung thư này, xem thêm trong phần lựa chọn điều trị.

Bộ ba âm tính: Nếu khối u của một người không có biểu hiện của ER, PR và hoặc HER2 thì gọi là bộ 3 âm tính, loại này chiếm khoảng 15% trường hợp ung thư vú xâm lấn. Loại ung thư này còn có xu hướng phát triển nhanh hơn cả dương tính hocmon, và loại này rất nhạy với hóa trị.

Ung thư vú chuyển sản là một loại của ung thư vú bộ 3 âm tính. Ung thư vú chuyến sản là loại ung thư bắt đầu từ một loại tế bào, ví dụ những tế bào tuyến vú, và sau đó chuyển sang một loại tế bào khác. Thông thường, ung thư vú chuyển sản bắt nguồn từ tế bào biểu mô. Sau đó chuyển sang các tế bào vảy hoặc không tuyến. Loại ung thư này phát triển rất nhanh, thường phát hiện khi đã lan đến các hạch.

Ung thư vú bộ 3 âm tính là loại phổ biến trong số các bệnh nhân ung thư vú có đột biến gen BRCA1 và thường xảy ra ở phụ nữ trẻ. Do đó, phụ nữ ung thư vú bộ 3 âm tính nên cân nhắc việc test gan đột biến BRCA.

Phần tiếp theo của chương này là “Các số liệu thống ke và phân tích” giúp giải thích có bao nhiêu người bị chẩn đoán căn bệnh này và tỉ lệ sống sót là bao nhiêu.

Thống kê

TRÊN TRANG NÀY: Bạn sẽ tìm thấy những thông tin về số lượng người bị chẩn đoán ung thư vú mỗi năm, bạn cũng biết thêm một số thông tin chung về tỉ lệ sống sót sau điều trị. Nên nhớ rằng, tỉ lệ sống sót phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố. Để xem một trang khác, bạn vui lòng sử dụng thanh công cụ Menu.

Ung thư vú là loại ung thư phổ biến ở nữ. Trong năm ngoái, có tới 246.600 phụ nữ ở Mỹ bị chẩn đoán ung thư vú xâm lấn và 61.000 phụ nữ bị chẩn đoán ung thư vú khu trú. Bất ngờ khi có tới 2.600 người đàn ông ở Mỹ bị chẩn đoán ung thư vú.

Ước tính có 40.890 người (40.450 nữ và 440 nam) chết do ung thư vú mỗi năm.

Tỉ lệ sống sót sau 5 năm cho chúng ta biết số người có thể sống sót ít nhất 5 năm sau khi bị chẩn đoán ung thư. Tỉ lệ sống sót 5 năm ở bệnh ung thư vú là 89%, 10 năm là 83% và 15 năm là 78%.

Nếu ung thư chỉ khu trú chỉ trong khu vực mô vú, thì tỉ lệ sống sót 5 năm là 99% (ở Mỹ, 61% trường hợp ung thư vú được chẩn đoán ở giai đoạn này).

Nếu ung thư đã lan đến hạch bạch huyết vùng, tỉ lệ sống 5 năm là 85%, còn nếu đã di căn xa thì tỉ lệ này chỉ còn 26%.

Khoảng 5% phụ nữ có di căn đến phổi khi họ vừa mới bị chẩn đoán ung thư vú. Dù ung thư vú có bị chẩn đoán ở các giai đoạn tiến triển, những phương pháp điều trị mới có thể giúp người bệnh duy trì chất lượng cuộc sống.

Chúng ta cần lưu ý, những thông kê này là con số trung bình, và tình trạng mỗi người phụ thuộc rất nhiều yếu tố, bao gồm kích thước khối u, số hạch di căn và những yếu tố khác ảnh hưởng đến tốc độ phát triển của khối u và cách tiến hành điều trị.

Ung thư vú là nguyên nhân phổ biến thứ 2 dẫn đến tử vong do ung thư giới nữ ở Mỹ, sau ung thư phổi. Tuy nhiên, từ năm 1989, số phụ nữ tử vong vì ung thư vú có xu hướng giảm đều nhờ phát hiện sớm cũng như kỹ thuật được cải thiện.

Phụ nữ dưới 50 tuổi, có sự giảm 3.2% mỗi năm từ 2007 đến 2011 (phụ nữ da trắng) và giảm 2,4% mỗi năm (phụ nữ da đen). Phụ nữ trên 50 tuổi, giảm 1,8% (phụ nữ da trắng) và 1,1% (phụ nữ da đen). Hiện tại có khoảng 3 triệu phụ nữ đang sống với căn bệnh ung thư vú ở Mỹ.

Giải phẫu

Hình ảnh giải phẫu vú

Những yếu tố rủi ro

TRÊN TRANG NÀY: Bạn sẽ biết thêm về những yếu tố nguy cơ làm tăng tỉ lệ mắc ung thư vú. Để xem những bài viết khác theo chuyên mục, bạn vui lòng sự dụng thanh Menu bên trên.

Một yếu tố được gọi là nguy cơ khi nó làm tăng nguy cơ phát triển thành ung thư vú. Có những yếu tố làm tăng nguy cơ trực tiếp những cũng có những nguy cơ gián tiếp, nhiều người có các yếu tố nguy cơ những lại không phát triển thành ung thư trong khi số khác không có yếu tố nguy cơ nào cũng mắc ung thư. Tuy nhiên, hiểu biết về những yếu tố nguy cơ giúp giúp bạn cũng như bác sĩ có những hướng xử lý hiệu quả hơn.

Nói chung, hầu hết các bệnh ung thư vú là rất lẻ tẻ, có nghĩa là chúng phát triển từ sự tổn thương gen của một người xảy ra tình cờ « sau khi » họ được sinh ra. Không có nguy cơ truyền gen này cho thế hệ con cái của họ. Ung thư vú di truyền có tỉ lệ thấp, chỉ chiếm khoảng 5% đến 10% số ca ung thư vú.

Khi cân nhắc về những yếu tố nguy cơ, điều quan trọng chúng ta phải nhớ rằng đa số phụ nữ ung thư vú đều không có yếu tố nguy cơ nào rõ ràng cả, không tiền sử mẹ ung thư vú. Điều này có nghĩa là tất cả phụ nữ đều phải đề phòng những thay đổi bất thường trên vú và đi khám ngay nếu phát hiện sự thay đổi nào đó.

Tất cả phụ nữ đều phải đề phòng những thay đổi bất thường trên vú

Tất cả phụ nữ đều phải đề phòng những thay đổi bất thường trên vú

Dưới đây là những yếu tố nguy cơ bạn cần xem xét:

1 – Tuổi tác:

Đa số trường hợp ung thư vú phát triển ở ngoài độ tuổi 50. Do đó, tuổi tác cũng là một yếu tố nguy cơ dẫn đến ung thư vú.

2 – Tiền sử cá nhân bị mắc ung thư vú:

Tiền sử cá nhân bị mắc ung thư vú nghĩa là đã từng xuất hiện khối u ác tính ở một bên vú. Những trường hợp như vậy làm tăng nguy cơ tái phát u ác tính ở vú còn lại lên 1 đến 2% mỗi năm (Nghĩa là nguy cơ sẽ tăng dần theo năm tháng).

Tuy nhiên nguy cơ này vẫn có thể được kiểm soát nhờ liệu pháp miễn dịch.

3 – Tiền sử gia đình mắc ung thư vú.

Ung thư vú có thể di truyền trong gia đình nếu:

Người thân gần nhất của bạn như: Bố, mẹ, chị em gái, hoặc con gái có tiền sử bị ung thư vú hoặc ung thư buồng trứng. Nếu có 2 người thân bị chẩn đoán ung thư vú, nguy có có thể tăng lên 5 lần so với người bình thường.

Có nhiều người thân bị mắc ung thư vú, bao gồm cả ông bà, chú, dì, cô, bác, cháu gái, anh em họ…
Một thành viên trong gia đình xuất hiện ung thư ở cả 2 vú.

4 – Gen di truyền

Có một số gen di truyền có liên quan đến tăng nguy cơ ung thư vú cũng như những loại ung thư khác. Được biết đến nhiều nhất là những đột biến gen 1 và 2 và thường đươc gọi là BRCA1 và BRCA2. Đột biến những gen trên có liên quan mật thiết đến ung thư vú và ung thư buồng trứng và một số loại ung thư khác. Ung thư vú ở nam cũng như ung thư tuyến tiền liệt có nguy cơ tăng lên nếu người đàn ông đó có những đột biến gen 1 và 2.

Những gen đột biến làm tăng nguy cơ mắc ung thư vú bao gồm cả hội chứng Lynch, hội chứng Cowden (CS), hội chứng Li-Fraumeni (LFS), lồng ruột non (PJS) và mất điều hòa telangiectasia (A-T).

Cũng có những gen khác làm tăng nguy cơ ung thư vú, tuy nhiên, cần có thêm bằng chứng đề chứng minh vai trò của chúng trong việc làm tăng nguy cơ ung thư. Ví dụ như, một người mang gen đột biến nhưng không phát triển ung thư vú, hiện tại đang có nhiều nghiên cứu được tiến hành để xác định tất cả những gen có liên quan đến nguy cơ ung thư vú.

Lịch sử ung thư buồng trứng:

Lịch sử ung thư buồng trứng có thể tăng nguy cơ ung thư vú ở nữ nếu ung thư buồng trứng là do đột biến di truyền. Đột biến gen ung thư vú như BRCA1 hoặc BRCA2 làm tăng cao cả nguy cơ ung thư vú và ung thư buồng trứng. Những người phụ nữ không có đột biến BRCA1 hoặc BRCA2 thường không tăng nguy cơ ung thư buồng trứng.

Phơi nhiễm estrogen và progesterone.

Estrogen và progesterone là những hocmon nữ quyết định đặc điểm giới tính nữ thứ cấp như sự phát triển vú, mang thai… Sự sản xuất hocmon giới tính nữ giảm dần theo độ tuổi đi kèm với tình trạng mãn kinh. Tình trạng phơi nhiễm lâu dài với những hocmon trên làm tăng nguy cơ ung thư vú.

– Người phụ nữ bắt đầu xuất hiện kinh nguyệt từ lúc 11 đến 12 tuổi hoặc bước vào tuổi mãn kinh ở tuổi 55 có nguy cơ ung thư vú cao hơn bình thường do do những tế bào vú phải tiếp xúc với estrogen và progesterone lâu hơn.

– Phụ nữ có thai lần đầu ở tuổi sau 35 hoặc những người phụ nữ mang thai không đủ tháng thường có nguy cơ ung thư vú cao. Mang thai có thể giúp giúp giảm nguy cơ ung thư vú do nó đẩy những tế bào vú nhanh đến giai đoan cuối cùng của sự trưởng thành.

Yếu tố kinh tế xã hội:

Những người phụ nữ giàu có thường có nguy cơ mắc ung thư vú cao hơn. Mặc dù lý do cho ho sự khác biệt đó vẫn chưa thực sự rõ ràng, tuy nhiên một số yếu tố có thể liên quan như chế độ ăn quá nhiều chất, yếu tố môi trường và một số yếu tố nguy cơ khác như mật độ vú. Ngược lại, những người phụ nữ nghèo thường có tình trạng ung thư vú nặng hơn và có tỉ lệ tử vong cao hơn so với nhóm giàu có.

Xạ trị: Việc tiếp xúc nhiều với bức xạ ion hóa lúc còn trẻ, ví dụ xạ trị vùng ngực cho những bệnh nhân u lympho Hodgkin làm tăng nguy cơ ung thư vú. Tuy nhiên, một lượng tia xạ rất nhỏ ở những phụ nữ chụp X quang tuyến vú định kì hàng năm không làm tăng nguy cơ ung thư vú.

Mật độ vú: Mô vú dày đặc có thể khiến việc phát hiện khối u trở nên khó khăn. Mật độ vú có thể là kết quả của nồng độ estrogen cao và mật độ này thường giảm theo độ tuổi. Một số bệnh viên sẽ yêu cầu kết quả chụp X quang bao gồm cả mật độ vú. Những nhà nghiên cứu cho rằng mật độ vú giảm sẽ giảm nguy cơ ung thư vú.

HIỂU VỀ NGUY CƠ UNG THƯ VÚ

Một số công cụ đánh giá nguy cơ ung thư vú đã được phát triển để giúp một người phụ nữ đánh giá rủi ro ung thư vú của mình. Nghiên cứu tốt nhất hiện nay là Gail model, hiện nghiên cứu này được thực hiện ở hiệp hội ung thư quốc gia hoa kì www.cancer.gov/bcrisktool. Sau khi bạn hoàn thành một số thông tin cá nhân cũng như gia đình, bao gồm cả chủng tộc, địa lý, công cụ này sẽ dự báo nguy cơ mắc ung thư vú của bạn trong 5 năm tới. Bỏi vì công cụ này chỉ hỏi về những thông tin ung thư vú ở những thành viên gia đình thân cận nhất và không bao gồm tuổi lúc chẩn đoán của họ, dó đó, công cụ sẽ hiệu quả và chính xác hơn ở những người phụ nữ không mang đột biến di truyền ung thư vú.

NGĂN CHẶN UNG THƯ VÚ

Những nguyên nhân khác nhau dẫn đến những bệnh ung thư khác nhau. Những nhà nghiên cứu vẫn tập trung nghiên cứu những nguyên nhân dẫn đến ung thư vú. Mặc dù chưa thể tìm ra cách để ngăn chặn hoàn toàn căn bệnh này, bạn vẫn có khả năng làm giảm nguy cơ mắc. Sau đây là một số giải pháp giúp chúng ta có thể phòng tránh ung thư vú:

– Cắt bỏ vú: Đối với những người phụ nữ có đột biến BRCA1 hoặc BRCA2, việc cắt bỏ vú để loại bỏ nguy cơ là một giải pháp cần cân nhắc. Giải pháp này có thể giảm thiểu rủi ro ung thư vú lên đến 95%. Những người phụ nữ mang những đột biến trên cũng nên cân nhắc việc cắt bỏ buồng trứng và ống dẫn trứng. Quá trình này có thể giảm rủi ro cả ung thư vú lẫn ung thư buồng trứng bằng cách chặn buồng trứng sản xuất estrogen.

– Hóa dự phòng: Những bệnh nhân có nguy cơ cao mắc ung thư vú có thể cân nhắc giải pháp hóa dự phòng.

Hóa dự phòng là việc sử dụng thuốc để hạn chế rủi ro ung thư. Hai thuốc tamoxifen (Nolvadex, Soltamox) và raloxifene (Evista) được chứng minh là làm giảm nguy cơ ung thư vú. Những thuốc này được gọi là những điều biến receptor estrogen chọn lọc (SERMs) và chúng không phải là hóa trị. Một chất điều biến estrogen chọn lọc là thuốc chặn receptor estrogen ở mô. Phụ nữ sau mãn kinh và tiền mãn kinh có thể sử dụng tamoxifen, trong khi raloxifene chỉ được sử dụng cho phụ nữ sau mãn kinh. Mỗi thuốc đều có tác dụng phụ khác nhau. Các chất ức chế aromatase (AIs) cũng có khả năng làm giảm nguy cơ ung thư vú. Ais là một loại điều trị chặn hocmon có tác dụng làm giảm estrogen trong cơ thể nữ giới. Một loại Ais hay được sử dụng là Aromasin, có tác dụng khá hiệu quả trong việc giảm nguy cơ ung thư vú. Tuy nhiên, Ais chỉ được dùng cho những phụ nữ sau mãn kinh.

– Thay đổi lối sống: Tập thể dục thể thao hàng ngày, giữ cân nặng ổn định, hạn chế rượu bia và hạn chế sử dụng những liệu pháp hocmon sau mãn kinh sẽ làm giảm nguy cơ mắc ung thư vú ở nữ.

Tầm soát ung thư

TRÊN TRANG NÀY: Bạn sẽ biết được cách chúng ta tầm soát loại ung thư này, bao gồm cả nguy cơ và lợi ích của tầm soát. Để xem những bài viết khác theo chuyên mục, bạn vui lòng sử dụng thanh công cụ Menu ở phía trên.

Các nhà khoa học đã phát triển và tiếp tục phát triển những xét nghiệm có thể nhận diện mỗi loại ung thư đặc thù trước khi những triệu chứng ung thư xuất hiện (Khi xuất hiện triệu chứng nghĩa là ung thư đã bắt đầu giai đoạn nặng). Mục tiêu chung của tầm soát ung thư là:

  • Giảm thiểu số người mắc ung thư vú
  • Giảm số người chết vì ung thư vú
  • Xác định những người có nguy cơ cao mắc ung thư vú, từ đó khuyến cáo họ đi tầm soát thường xuyên hơn.

Sau đây là một số phương pháp tầm soát ung thư vú phổ biến:

Chụp X quang: Chụp x quang là công cụ tốt nhất để bác sĩ có thể tầm soát ung thư trên một bệnh nhân khỏe mạnh. Giống như tất cả các loại kiểm tra sức khỏe khác, chụp X quang cũng mang đến một số rủi ro nhất định ví dụ như tình trạng dương tính giả dẫn đến sự lo lắng quá mức. Khoảng 10% đến 15% trường hợp chụp X quang không phát hiện được ung thư, tình trạng này gọi là âm tính giả. Chụp X quang kĩ thuật số có thể mang lại hiệu quả chẩn đoán cao hơn, đặc biệt ở những phụ nữ có mật độ vú cao. Mới đây, X quang 3D được phát triển đã góp phần giảm đáng kể tỉ lệ chẩn đoán âm tính giả và phát hiện chính xác cả những khối u kích thước nhỏ.

Những phương pháp tầm soát ung thư vú khác:

Một số cách khác để tầm soát ung thư vú bao gồm siêu âm hay chụp cộng hưởng từ không được sử dụng phổ biến để tầm soát ung thư vú. Những phương pháp này thường chỉ được áp dụng cho những phụ nữ có nguy cơ cao ung thư vú, những người có mật độ vú rất cao hoặc khi một khối u được tìm thấy trong quá trình kiểm tra vú.

Theo Cộng đồng ung thư vú Mĩ, bệnh nhân có đột biến gen BRCA, từng xạ trị vùng ngực hoặc có tiền sử nhiều thành viên trong gia đình ung thư vú nên cân nhắc việc sử dụng kết hợp X quang và chụp cộng hưởng từ MRI.

Những phụ nữ có rủi ro ung thư vú ở mức độ trung bình, ví dụ, những phụ nữ có những thay đổi tiền ung thư khi sinh thiết nên cân nhắc kiểm tra MRI.

MRI có thể hiệu quả hơn X quang và siêu âm đối với những khối u nhỏ ở vú đặc biệt ở những phụ nữ có mật độ vú cực cao. Tuy nhiên, MRI cũng gây ra nhiều kết quả dương tính giả, điều đó đồng nghĩa với việc bệnh nhân phải tiến hành thêm những thử nghiệm tốn kém khác như sinh thiết, phẫu thuật… Thêm vào đó, MRI không cho kết quả những điểm vôi hóa nhỏ trong khi X quang có thể xác định dễ dàng. Các điểm vôi hóa cũng là dấu hiệu cảnh báo sớm ung thư vú (DCIS).

Siêu âm hay MRI cũng có thể sử dụng ở những phụ nữ có tình trạng vú đáng ngờ sau khi kiểm tra cơ học hoặc X quang.

Dấu hiệu triệu chứng

TRÊN TRANG NÀY: Bạn sẽ biết thêm về những dấu hiệu thay đổi trong cơ thể và những dấu hiệu khác cho thấy vấn đề về sức khỏe. Để xem bài viết theo chuyên mục khác, bạn vui lòng sử dụng thanh công cụ Menu.

Phụ nữ ung thư vú có thể cảm nhận thấy một số triệu chứng hoặc thay đổi bất thường, tuy nhiên, đa số phụ nữ không có xuất hiện triệu chứng rõ ràng. Nhiều khi, chính những triệu chứng khả nghi trên chỉ đơn giản là do phản ứng của thuốc chứ không phải là do ung thư.

Nếu bạn có những dấu hiệu, triệu chứng sau thì nên gặp bác sĩ để kiểm tra:

  • Một khối u nhỏ cảm giác giống một nút cứng hoặc một khối dày lên trong vú. Tất nhiên, việc này cần được kiểm tra ở cả 2 vú để có sự so sánh khách quan.
  • Thay đổi kích thước hoặc hình dạng vú.
  • Dịch núm vú màu đỏ xuất hiện bất thường, có thể chỉ xuất hiện ở 1 vú.
  • Xuất hiện những thay đổi về mặt thể chất, ví dụ, núm vú lõm vào hoặc đau ở khu vực xung quanh núm vú.
    Da kích ứng hoặc xuất hiện những thay đổi như: Nhăn nheo, xuất hiện vết lõm, tạo vày…
  • Vú sưng, nóng, đỏ có hoặc không có dịch mủ màu cam.
  • Đau vú dai dẳng không khỏi.
  • Biểu hiện ung thư vú thời kỳ cuối: Ung thư vú thời kỳ cuối có thể phát sinh di căn hạch trên xương đòn (còn gọi là hạch thượng đòn), hạch nách hai bên, hạch cơ hoành, cùng với di căn đến phổi, gan, xương, tuyến thượng thận, não. Ung thư tại chỗ có thể xâm lấn đến da, khiến da bị lở loét, chảy nước, xâm lấn đến cơ ngực lớn, cơ ngực nhỏ, cơ gian sườn và xương sườn gây ra triệu chứng tương ứng.Khi có một trong các dấu hiệu ung thư vú như trên thì người bệnh cần nhanh chóng đi tới bệnh viện hoặc các cơ sở y tế chuyên khoa uy tín để khám và được chẩn đoán bệnh sớm, có phương pháp điều trị ung thư vú hiệu quả và phù hợp.

Nếu bạn có bất kì dấu hiệu nào nêu trên, hãy gặp ngay bác sĩ để kiểm tra. Bác sĩ có thể sẽ hỏi về thời gian cũng như tần suất xuất hiện dấu hiệu bất thường, hãy cố gắng miêu tả thật cụ thể để bác sĩ dễ dàng có những chẩn đoán sơ bộ cũng như những lời khuyên hữu ích nhất.

 

Chuẩn đoán

TRÊN TRANG NÀY: Bạn sẽ được biết những kiểm tra, quy trình và kỹ thuật giúp bác sĩ có thể phát hiện những bất thường và xác định nguyên nhân vấn đề. Để xem một trang chuyên mục khác, bạn vui lòng sử dụng thanh công cụ ở bên trên.

Bác sĩ sử dụng rất nhiều xét nghiệm để chẩn đoán ung thư và xác định liệu ung thư đã xâm lấn hay di căn đến bộ phận khác cơ thể hay chưa. Một số xét nghiệm có thể giúp bác sĩ quyết định nên lựa chọn liệu pháp điều trị nào là phù hợp nhất với người bệnh. Đa số trường hợp, sinh thiết là cách chuẩn xác nhất để xác định khối u là lành hay ác tính.  Sinh thiết là cách lấy đi một phần mô nhỏ ở khối u sau đó mang đi soi kính hiển vi. Nếu không thể sinh thiết, bác sĩ có thể gợi ý một số xét nghiệm khác. Xét nghiệm hình ảnh có thể xác định liệu khối u đã di căn hay chưa.

Danh sách dưới đây mô tả những lựa chọn chẩn đoán ung thư. Tất nhiên không phải ai cũng làm hết các xét nghiệm này. Bác sĩ sẽ phải cân nhắc nhiều về những yếu tố như:

  • Tuổi tác và tình trạng sức khỏe.
  • Loại ung thư đang được nghi ngờ.
  • Dấu hiệu cũng như triệu chứng.
  • Những kết quả xét nghiệm trước đó.

Những xét nghiệm này là rất cần thiết để đánh giá nguy cơ ung thư vú và thường bắt đầu sau khi người phụ nữ hoặc bác sĩ phát hiện thấy một khối u bất thường khi tầm soát ung thư hoặc một cục hoặc nốt trong vú trong quá trình kiểm tra lâm sàng hoặc tự kiểm tra. Vài dấu hiệu ít phổ biến hơn như vài nốt đỏ hoặc sưng ở vú hoặc vài cục, nốt dưới cánh tay cũng là dấu hiệu cảnh báo ung thư vú sớm ở nữ.

Những xét nghiệm sau có thể được sử dụng để chấn đoán hoặc theo dõi ung thư vú.

Xét nghiệm hình ảnh:

Những loại xét nghiệm hình ảnh dưới đây nhằm xác định khu vực nghi ngờ trong vú.

  • Chụp quang tuyến vú: Chụp quang tuyến vú trong chẩn đoán tương tự như chụp quang tuyến vú trong tầm soát chỉ khác ở chỗ sẽ có nhiều hình ảnh chụp tập trung ở vú, cách này thường được sử dụng khi người phụ nữ có những triệu chứng bất thường như có u cục, hay thay đổi núm vú. Chụp quang tuyến vú cũng được sử dụng khi phát hiện những bất thường trong quá trình tầm soát ung thư.
  • Siêu âm: Siêu âm dùng những song âm thanh tần số cao để tạo ra hình ảnh về mô học vú. Hình ảnh siêu âm có thể cho thấy sự khác biệt ở những mô dày lên bất thường, (có thể là khối u).
  • MRI (Cộng hưởng từ) sử dụng từ trường , không phải tia X, để tạo ra hình ảnh chi tiết của cơ thể, chụp cộng hưởng từ cũng giúp đo kích thước khối u. Một chất nhuôm đặc biệt được tiêm vào tĩnh mạch bệnh nhân trước khi tiến hành chiếu chụp giúp tạo ra hình ảnh sắc nét nhất của khối u khả nghi. Cộng hưởng từ MRI vú có thể được sử dụng sau khi phụ nữ bị chẩn đoán ung thư vú để kiểm tra xem vú còn lại có bị ung thư hay không hoặc phát hiện xem khối ung thư đã lây lan đến những vị trí nào trong cơ thể. Phương pháp này cũng được sử dụng để tầm soát, bên cạnh chụp X quang cho những phụ nữ có nguy cơ rất cao bị ung thư vú.

Sinh thiết:

Sinh thiết là kỹ thuật lấy một phồn nhỏ của khối u đem đi xét nghiệm dưới kính hiển vi. Những phương pháp khác có thể cho biết sự tồn tại của ung thư nhưng chỉ có duy nhất sinh thiết mới là xét nghiệm chắc chắn nhất. Sauk hi được lấy ra ngoài có thể, các kỹ thuật viên xét nghiệm sẽ mang đi phân tích.

Phân tích kết quả sinh thiết:

Phân tích mẫu sinh thiết có thể giúp bác sĩ biết rõ về những đặc tính của khối u cũng như có lựa chọn điều trị phù hợp.

Những đặc tính khối u: Soi mẫu sinh thiết dưới kính hiển vi giúp xác định liệu ung thư đã xâm lấn hay vẫn đang khu trú, ống động mạch hay thùy và liệu ung thư đã lan đến hạch bạch huyết hay chưa, lề hoặc cạnh của khối u cũng được mang đi kiểm tra.

ER và PR. Xét nghiệm ER và PR giúp xác định nguy cơ ung thư tái phát cũng như làm cơ sở quyết định phương pháp điều trị hiệu quả nhất. Thông thường, liệu pháp Hocmone khá hiệu quả cho những bệnh nhân ung thư vú dương tính với ER và/hoặc PR.

HER2.  Tình trạng HER2 giúp xác định liệu thuốc có tác dụng lên thụ thể HER2 hay không, ví dụ: Kháng thể điều trị trastuzumab (Herceptin), có thể điều trị ung thư vú. Thêm vào đó, khoảng 50% ung thư vú dương tính HER2 cũng dương tính với hormone.

Giai đoạn:  Giai đoạn của khối u cũng được xác định thông qua kết quả sinh thiết. Giai đoạn của ung thư được đánh giá thông qua mức độ khác biệt giữa tế bào ung thư và tế bào thường và việc chúng phát triển nhanh hay chậm. Có 4 giai đoạn:

Giai đoạn 1 – Giai đoạn 2 – Giai đoạn 3 – Giai đoạn 4

Xét nghiệm gen để dự đoán nguy cơ tái phát:

Đây là liệu pháp giúp bác sĩ có một cái nhìn sâu hơn về khối u đặc biệt cho những trường hợp bệnh nhân đã di căn.

Những xét nghiệm này giúp đánh giá nguy cơ ung thư tái phát ở những năm sau khi chẩn đoán. Kết quả xét nghiệm cũng dự đoán được liệu một phương pháp điều trị nào đó có thực sự hiệu quả trong việc giảm nguy cơ tái phát. Do đó, giúp bệnh nhân tránh khỏi việc sử dụng những liệu pháp không hiệu quả, tốn kém.

 Xét nghiệm máu:

Bác sĩ có thể sẽ cần một số xét nghiệm máu để xác định thêm một số đặc tính của khối u.

Đếm tế bào máu đầy đủ: Giúp đo đếm số lượng các loại tế bào khác nhau ví dụ: tế bào hồng cầu, bạch cầu. Những chỉ số này để đánh giá hoạt động của tủy xương.

Phân tích hóa học huyết thanh: Giúp xác định các thành phần khoáng chất trong máu, ví dụ, potassium và canxi, được gọi là những chất điện phân và những protein đặc biệt được gọi là enzyme có thể xuất hiện tình trạng bất thường nếu ung thư di căn. Tuy nhiên,

Xét nghiệm viêm gan: Giúp kiểm tra dấu hiệu phơi nhiễm viêm gan B hoặc C. Nếu có xuất hiện viêm gan virus, bác sĩ sẽ cho bạn sử dụng một số thuốc giúp kiềm chế, kiểm soát virus trước khi tiến hành hóa trị. Nếu không có xét nghiệm này, hóa trị có thể là mồi lửa kích hoạt sự bùng phát virus phá hủy gan.

Xét nghiệm máu kiểm tra chất đánh dấu: Nếu nồng độ chất đánh dấu khôi u cao có thể là bằng chứng rõ ràng về sự hiện diện của ung thư hoặc tiền ung thư. Xét nghiệm này thường không được tiến hành cho những bệnh nhân ung thư vú giai đoạn sớm bởi giai đoạn này chỉ số thường thấp, tuy nhiên việc xét nghiệm này cũng sẽ giúp việc kiểm soát  tình trạng phát triển cũng như tái phát hoặc di căn của bệnh bên cạnh những triệu chứng và xét nghiệm hình ảnh.

Sau khi những xét nghiệm kết thúc, bác sĩ sẽ thông báo kết quả cho bạn hoặc gia đình bạn. Nếu chẩn đoán là ung thư, những kết quả trên giúp bác sĩ biết đượng kích thước cũng như số lượng khối u trong cơ thể. Nếu có khu vực khả nghi nằm ngoài vú, ít nhất sẽ có 1 xét nghiệm sinh thiết được tiến hành để xác nhận lại chẩn đoán ban đầu.

Lựa chọn điều trị

TRÊN TRANG NÀY: Bạn sẽ biết thêm những cách khác nhau mà bác sĩ sẽ sử dụng để điều trị với các loại ung thư khách nhau. Để xem trang khác, bạn vui lòng sử dụng thanh công cụ Menu phía trên.

Phần này đưa ra những phương pháp tổng thể trong việc chăm sóc và điều trị ung thư vú. Trong quá trình đưa ra kế hoạch điều trị, bệnh nhân sẽ được khuyến khích tiến hành các thử nghiệm lâm sàng đánh giá hiệu quả cũng như tác dụng phụ trước khi tiến hành nhằm tìm ra phương pháp nào là tốt nhất cho người bệnh.

TỔNG QUAN ĐIỀU TRỊ

Trong chăm sóc bệnh nhân ung thư, bác sĩ sẽ được chia làm các nhóm khác nhau phụ trách những nhóm điều trị chuyên biệt, ví dụ như bác sĩ phẫu thuật, bác sĩ chiếu xạ, bác sĩ truyền hóa. Các nhóm bác sĩ sẽ ngồi với nhau để bàn bạc đưa ra phác đồ điều trị hợp lý nhất. Nhóm điều trị cũng bao gồm một số chuyên gia y tế đặc thù khác: Phụ tá, y tá, dược sĩ, bác sĩ dinh dưỡng…

Phác đồ điều trị phụ thuộc rất nhiều vào tình trạng của bệnh, một số khối u nhỏ nhưng phát triển rất nhanh, trong khi đó một số khác kích thước nhỏ nhưng lại có tốc độ phát triển chậm. Do đó, lựa chọn điều trị phụ thuộc vào từng cá thể. Dưới đây là một số yếu tố quyết định đến lựa chọn điều trị:

  • Giai đoạn của khối u
  • Phân nhóm ung thư, bao gồm cả hocmon ER, PR và HER2
  • Gen đánh dấu ví dụ: Oncotype DXTM và Mammaprint TM
  • Tuổi, sức khỏe và mong muốn
  • Tình trạng mãn kinh ở nữ
  • Sự hiện diện của những gen đột biến di truyền như BRCA1, BRCA2

Dù mỗi bệnh nhân sẽ có những phác đồ cụ thể khác nhau, tuy nhiên, đều tuân theo các bướu điều trị ung thư vú cơ bản.

Cả DCIS (DCIS là ung thư biểu mô tuyến vú tại chỗ, được xác định là giai đoạn 0) và giai đoạn sớm của ung thư vú xâm lấn, bác sĩ thường khuyên bệnh nhân phẫu thuật để cắt bỏ khối u. Để đảm bảo toàn bộ khối u bị cắt bỏ hoàn toàn, bác sĩ phẫu thuật cũng đồng thời cắt bỏ phần mô xung quanh khối u. Dù mục tiêu của phẫu thuật là cắt bỏ và lấy hết các tế bào ung thư ra khỏi cơ thể, tuy nhiên, những tế bào ung thư siêu nhỏ vẫn có thể bị bỏ sót ở trong vú hoặc ở một cơ quan nào đó. Trong một số trường hợp, bác sĩ sẽ phải tiến hành phẫu thuật lại.

Đối với những khối u to, tốc độ phát triển nhanh, bác sĩ có thể cho tiến hành điều trị kết hợp, phẫu thuật trước khi tiến hành điều trị hocmon hoặc hóa trị, có một số lợi ích khi tiến hành các liệu pháp kết hợp trước khi phẫu thuật:

  • Một số phụ nữ phải cắt bỏ vú có thể tiến hành phẫu thuật bảo tồn nếu khối u co nhỏ đi trước khi phẫu thuật.
    Phẫu thuật có thể được tiến hành một cách dễ dàng hơn.
  • Bác sĩ có thể biết được liệu phương pháp điều trị hiện tại có hiệu quả
  • Bệnh nhân có thể được tiến hành một phương pháp điều trị mới bằng 1 cuộc thử nghiệm lâm sàng
    Sau phẫu thuật, bước tiếp theo trong điều trị ung thư vú giai đoạn đầu là kiểm soát không cho ung thư tái phát và dọn dẹp hết tất cả những tế bào ung thư còn sót lại.

Những tế bào ung thư sót lại thường rất khó bị phát hiện những là nguyên nhân gây tăng nguy cơ ung thư tái phát tại vị trí ban đầu hoặc vị trí di căn khác. Liệu pháp điều trị sau khi phẫu thuật gọi là liệu pháp bổ trợ. Liệu pháp bổ trợ bao gồm cả xạ trị, hóa trị, điều trị đích, liệu pháp hocmon.

Cùng với chẩn đoán giai đoạn bệnh, một số công cụ khác cũng giúp đánh giá tiên lượng, giúp bạn và bác sĩ ra quyết định về điều trị bổ trợ. Thêm vào đó, những xét nghiệm khác, có thể dự đoán nguy cơ tái phát bằng cách kiểm tra mô khối u, đây là cách tốt để hiểu rõ hơn về nguy cơ tái phát ung thư và xem liệu hóa chất có làm giảm nguy cơ tái phát đó không.

Khi liệu pháp phẫu thuật không khả thi, người ta gọi đây là tình trạng khối u không thể cắt bỏ. Bác sĩ sẽ gợi ý một hướng điều trị khác. Hóa trị, điều trị đích, xạ trị, liệu pháp hocmon giúp làm nhỏ khối u.

Đối với ung thư tái phát và ung thư di căn, lựa chọn điều trị phụ thuộc vào phương pháp điều trị được tiến hành đầu tiên và những tính chất của khối u được mô tả ở trên ví dụ như ER, PR hay HER2.

PHẪU THUẬT

Phẫu thuật là cắt bỏ khối u và cả khu vực xung quanh khối u. Phẫu thuật cũng được dùng để kiểm tra các hạch bạch huyết ở nách. Thông thường, nếu khối u càng nhỏ, bác sĩ càng có nhiều lựa chọn điều trị, có những loại phẫu thuật sau:

Cắt bỏ khối u: là lấy đi khối u kèm với một phần mô xung quanh. Cả ung thư loại DCIS và ung thư giai đoạn xâm lấn, xạ trị duy trì mô vú là giải pháp được khuyến cáo sau khi phẫu thuật. Phương pháp cắt bỏ khối u hay còn được gọi là phẫu thuật vú bảo tồn.

Phẫu thuật cắt bỏ vú. Là loại phẫu thuật cắt bỏ toàn bộ mô vú. Có một số loại phẫu thuật cắt bỏ vú khác nhau. Hãy hỏi ý kiến bác sĩ liệu phần da có được bảo tồn không, hoặc phần núm vú.

CẮT BỎ HẠCH BẠCH HUYẾT VÀ MANG ĐI PHÂN TÍCH

Tế bào ung thư có thể được tìm thấy trong các hạch nách, Một điều quan trọng là tìm xem có hạch nào xung quanh khối u có xuất hiện tế bào ung thư từ đó đưa ra những hướng điều trị triệt để hơn.

Cắt bỏ hạch giữa cửa: Cắt bỏ hạch giữ cửa là việc phẫu thuật lấy đi một hoặc vài hạch bạch huyết, tránh việc phẫu thuật cắt bỏ quá nhiều hạch nách. Việc phẫu thuật cắt bỏ hạch nách càng đơn giản thì rủi ro tác dụng phụ càng thấp, bao gồm cả việc phù tay, tê tay, hạn chế vận động tay, ảnh hưởng rất nhiều đến chất lượng cuộc sống người bệnh.

Trong một cuộc phẫu thuật cắt bỏ hạch cửa, bác sĩ phẫu thuật, bác sĩ sẽ cố gắng cắt đi 1 đến 3 hạch dưới cánh tay. Sau đó, các chuyên gia y khoa sẽ xét nghiệm hạch vừa lấy ra để tìm dấu vết của ung thư. Để tìm thấy các hạch cửa, bác sĩ phẫu thuật sẽ tiêm thuốc nhuộm hoặc phóng xạ dẫn đường vào khu vực xung quanh khối u hoặc xung quanh núm vú. Chất nhuộm sẽ đi đến các hạch và đến các hạch cửa trước tiên. Từ đó bác sĩ sẽ nhận biết được vị trí hạch cửa.

Nếu hạch được xét nghiệm và kết quả là không có tế bào ung thư, bác sĩ sẽ biết rằng, có thể những hạch khác cũng an toàn (chưa có tế bào ung thư – vì hạch cửa là vị trí gần nhất rồi) và không cần phẫu thuật tiếp nữa.

Nếu trường hợp phát hiện hạch cửa có chứa tế bào ung thư, bác sĩ phẫu thuật có thể sẽ tiếp tục phẫu thuật để lấy tiếp những hạch xa hơn để xem có tế bào ung thư không. Nếu chỉ có 1 hoặc 2 hạch có chứa tế bào ung thư, liệu pháp tốt nhất sẽ là xạ trị toàn bộ vú. Phẫu thuật sẽ không cần thiết trong trường hợp này.

Bóc tách nút mạch bạch huyết: Bác sĩ phẫu thuật sẽ cắt bỏ rất nhiều hạch phái dưới cánh tay, sau đó những hạch này cũng sẽ được gửi đi kiểm nghiệm tìm kiếm tế bào ung thư. Số lượng hạch được cắt bỏ phụ thuộc nhiều vào từng bệnh nhân, có người ít nhưng cũng có người nhiều. Những nghiên cứu gần đây cho thấy, bóc tách nút mạch bạch huyết có thể không cần thiết đối với tất cả phụ nũ ung thư vú giai đoạn sớm.

PHẪU THUẬT TÁI TẠO (NHỰA)

Những phụ nữ cắt bỏ vú có thể cân nhắc việc tái tạo vú, việc này có thể sử dụng một số mô, da ở khu vực nào đó trong cơ thể hoặc dùng chất tổng hợp. Công việc này thường được tiến hành bởi bác sĩ thẩm mỹ. Bệnh nhân có thể tiến hành phẫu thuật tái tạo ngay sau khi phẫu thuật cắt bỏ vú hoặc tiến hành sau đó một thời gian.

Thêm vào đó, phẫu thuật dựng hình vú có thể tiến hành luôn trong quá trình phẫu thuật cắt bỏ khối u, việc làm này không nhất thiết phải có sự can thiệp của bác sĩ thẩm mỹ. Nhiều trường hợp vú còn lại (vú không bị ung thư) cũng được phẫu thuật để 2 bên có cùng hình dạng như nhau (Tôi đang nói về trường hợp phẫu thuật cắt bỏ khối u chứ không phải phẫu thuật cắt bỏ hoàn toàn vú).

TẠO NGỰC GIẢ

Ngực giả hay còn gọi là ngực nhân tạo cũng là một lựa chọn cho bệnh nhân ung thư vú, những bệnh nhân mà chưa muốn phẫu thuật tạo hình vú (kỹ thuật đã nói ở phía trên). Kỹ thuật này có thể dùng nguyên liệu là silicon hoặc vật liệu mềm vừa vặn với áo ngực.

XẠ TRỊ

Liệu pháp xạ trị sử dụng chum tia có tần số cao để tiêu diệt tế bào ung thư. Người đảm nhiệm công việc này được gọi là bác sĩ chiếu xạ. kỹ thuật xạ trị phổ biến nhất là: Xạ trị bên ngoài, tức là dùng máy chiếu xạ từ bên ngoài cơ thể. Một phương pháp ít được dùng hơn là xạ trị bên trong, bác sĩ sẽ tạo ra một vết môt nhỏ để đưa mũi xạ vào tiến sát khối u.

Khi xạ trị được tiến hành bằng cách đặt nguồn phóng xạ vào trong khối u, kỹ thuật đó gọi là liệu pháp phóng xạ. Một phác đồ xạ trị thường bao gồm nhiều đợt điều trị trong một khoảng thời gian nhất định. Đa số, liệu pháp xạ trị được tiến hành sau khi phẫu thuật cắt bỏ khối u và theo tiếp sau đó là hóa trị bổ trợ nếu cần thiết. Xạ trị thường được tiến hành vào một số thời điểm cụ thể trong tuần nhằm đảm bảo loại bỏ hết tế bào ung thư xung quanh khối u hoặc mô nào đó trong cơ thể. Điều này giúp giảm thiểu nguy cơ ung thư tái phát. Trên thực tế, với những phương pháp phẫu thuật hiện đại kết hợp xạ trị hiện any, tỉ lệ ung thư tái phát đã giảm xuống dưới 5% ít nhất trong 10 năm.

Xạ trị bổ trợ cũng có thể được tiến hành ở phụ nữ sau khi cắt bỏ hoàn toàn vú, phụ thuộc vào độ tuổi, kích thước khối u, số hạch dưới nách chứa ung thư, bề rộng của vùng mô lành xung quanh khối u, tình trạng thụ thể ER, PR, tình trạng HER2 và những yếu tố khác.

Liệu pháp xạ trị tương tác là phương pháp xạ trị trước phẫu thuật để làm nhỏ kích thước khối u lớn, giúp cho việc phẫu thuật trở nên đơn giản hơn. Phương pháp này cũng không phổ biến và chỉ được chỉ định khi khối u quá lớn và không thể phẫu thuật ngay.

Liệu pháp xạ trị có thể dẫn đến một số tác dụng phụ, bao gồm mệt mỏi, sung vú, đau… Một số ít trường hợp, phổi có thể bị tổn thương nhẹ.

LỊCH PHÁC ĐỒ XẠ TRỊ

Phác đồ xạ trị chuẩn sau phẫu thuật cắt bỏ khối u là xạ trị ngoài từ thứ 2 đến thứ 6 trong 5-6 tuần. Quá trình này bao gồm cả xạ trị toàn bộ vú trong 4-5 tuần đầu tiên, sau đó sẽ là những điều trị tập trung hơn cho vị trí khối u vú.

Khoảng thời gian điều trị tập trung được gọi là giai đoạn “boost” (thúc đẩy), là liệu trình chuẩn cho phụ nữ ung thư vú xâm lấn để giảm thiểu nguy cơ ung thư vú tái phát. Bệnh nhân ung thư vú DCIS cũng có thể có giai đoạn boost. Những phụ nữ không có nguy cơ cao tái phát, boost có thể được cân nhắc (không bắt buộc).

Nếu có tế bào ung thư bên trong các hạch dưới cánh tay, xạ trị có thể được tiến hành tại cùng bên với nổ, dưới cánh tay hoặc thành ngực.

Những bệnh nhân phải cắt bỏ vú có thể không cần xạ trị, phụ thuộc vào những yếu tố của khối u. Xạ trị có thể được tiến hành sau khi cắt vú đối với bệnh nhân có khối u lớn, có nhiều hạch, hoặc khối u đã lan tới da hoặc thành ngực.

Những nghiên cứu cho thấy, phác đồ điều trị ngắn ngày có tính an toàn và hiệu quả kiểm soát ung thư tương tự những phác đồ điều trị dài ngày đối với những bệnh nhân chưa có di căn hạch. Những liệu trình xạ trị ngắn ngày thường được sử dụng ở Mỹ.

Tuy nhiên, phác đồ điều trị ngắn ngày không áp dụng cho những phụ nữ cần xạ trị sau cắt bỏ vú hoặc xạ trị các hạch. Những phác đồ xạ trị dài ngày có thể cần thiết với những phụ nữ có kích thước vú lớn.

XẠ TRỊ BỔ TRỢ ĐỐI VỚI BỆNH NHÂN UNG THƯ LỚN TUỔI và/hoặc KHỐI U NHỎ

Những nghiên cứu gần đây đang xem xét việc hạn chế xạ trị cho những phụ nữ tuổi 70 hoặc cao hơn hoặc với những phụ nữ có khối u nhỏ. Nói tóm lại, những nghiên cứu này cho thấy, xạ trị giúp làm giảm nguy cơ ung thư vú tái phát ở bên vú còn lại khi so với việc không xạ trị, tuy nhiên xah trị không kéo dài thời gian sống của phụ nữ. Thông tin hướng dẫn từ National Comprehensive Cancer Network (NCCN) cũng khuyến cáo liệu pháp xạ trị như phác đồ chuẩn sau phẫu thuật cắt bỏ khối u. Tuy nhiên, họ cũng lưu ý những người phụ nữ có tình trạng đặc biệt hoặc khối u nguy cơ thấp (low-risk tumor) có thể không nhất thiết phải sử dụng xạ trị và chỉ cần sử dụng liệu pháp hệ thống (systemic therapy – xem phía dưới) sau phi phẫu thuật cắt bỏ khối u.

LIỆU PHÁP HỆ THỐNG

Liệu pháp này sử dụng dạng uống hoặc truyền tĩnh mạch để mang dược chất đến tế bào ung thư. Có 3 phương pháp điều trị hệ thống dùng cho bệnh nhân ung thư vú: Hóa trị, điều trị hocmon hoặc điều trị đích. Mỗi phương pháp điều trị sẽ được mô tả cụ thể dưới đây:

ĐIỀU TRỊ HÓA CHẤT

Hóa trị là sử dụng thuốc tiêu diệt tế bào ung thư, ngăn chặn sự phát triển và phân chia của tế bào ung thư. Hóa trị được thực hiện bởi bác sĩ hóa trị liệu, đây là bác sĩ chuyên điều trị ung thư bằng thuốc. Cách hóa trị phổ biến là chuyền tĩnh mạch hoặc một số loại thuốc khác dùng theo đường uống.

Không phải tất cả bệnh nhân ung thư vú đều hóa trị, bác sĩ sẽ cân nhắc những yếu tố dưới đây trước khi quyết dịnh điều trị hóa chất:

  • Loại ung thư và giai đoạn ung thư
  • Dự đoán hiệu quả của hóa trị đối với bệnh nhân
  • Mục tiêu tổng thể của điều trị

Hóa trị có thể được tiến hành sau phẫu thuật để làm nhỏ kích thước khối u, giúp việc phẫu thuật trở nên dễ dàng hơn. Hóa trị cũng được tiến hành sau phẫu thuật giúp giảm nguy cơ ung thư tái phát. Hóa trị cũng được tiến hành với những bệnh nhân ung thư vú tái phát (đã di căn).

Một phác đồ điều trị hóa chất ung thư phụ thuộc vào chu kỳ lặp lại của thuốc trong một khoảng thời gian. Nếu được truyền hóa mỗi tuần 1 lần, 2 tuần 1 lần, 3 tuần 1 lần hoặc thậm chí mỗi tháng 1 lần. Một số thuốc điều trị ung thư vú phổ biến là:

  • Capecitabine (Xeloda)
  • Carboplatin (Paraplatin)
  • Cisplatin (Platinol)
  • Cyclophosphamide (Neosar)
  • Docetaxel (Docefrez, Taxotere)
  • Doxorubicin (Adriamycin)
  • Pegylated liposomal doxorubicin Doxil)
  • Epirubicin (Ellence)
  • Fluorouracil (5-FU, Adrucil)
  • Gemcitabine (Gemzar)
  • Methotrexate (multiple brand names)
  • Paclitaxel (Taxol)
  • Protein-bound paclitaxel (Abraxane)
  • Vinorelbine (Navelbine)
  • Eribulin (Halaven)
  • Ixabepilone (Ixempra)

Tác dụng phụ của hóa trị phụ thuộc từng cá thể, từng thuốc sử dụng, liều dùng và lịch điều trị. Những tác dụng phụ có thể bao gồm mệt mỏi, nhiễm trùng, nôn, buồn nôn, rụng tóc, chán ăn và tiêu chảy. Những tác dụng này có thể được kiểm soát bởi các bác sĩ hỗ trợ, các y bác sĩ, các chuyên gia dinh dưỡng. Hiếm khi xuất hiện những tác dụng phụ ảnh hưởng lâu dài ví dụ như tổn thương tim, tổn thương dây thần kinh, ung thư thứ phát. Nhiều bệnh nhân ung thư cảm thấy thể trạng tốt trong suốt quá trình hóa trị và được chăm sóc một cách chủ động từ gia đình, trong công việc, trong chế độ luyện tập, tuy nhiên mỗi bệnh nhân có những tình trạng khác nhau.

LIỆU PHÁP HOCMONE

Liệu pháp hocmon là phương pháp điều trị hiệu quả cho đa số khối u dương tính cả ER và PR, cả giai đoạn sớm và giai đoạn di căn. Loại khối u này sử dụng nguyen liệu là Hocmon để phát triển. Do đó, việc ngăn chặn hocmon có thể giúp ngăn chặn ung thư tái phát. Liệu pháp hocmon cũng hiệu quả cho bệnh nhân ung thư vú đã di căn, thu nhỏ kích thước khối u. Một số thuốc hay được dùng: Tamoxifen, Aromatase inhibitors (AIs).

LIỆU PHÁP ĐIỀU TRỊ ĐÍCH

Liệu pháp hướng đích là một phương pháp điều trị hướng đích lên các gen cụ thể, protein hoặc lên một môi trường trong mô giúp giảm sự phát triển cũng như sống sót của khối u. Những phương pháp điều trị đích này rất tập trung, và cơ chế hoạt động khác với hóa trị. Phương pháp điều trị này ngăn chặn sự phát triển của khối u trong khi hạn chế tối đa độc tính lên các tế bào khỏe mạnh.

Phương pháp điều trị đích đầu tiên được cho phép sử dụng là liệu pháp hocmon. Sau đó là liệu pháp hướng đích GEN HER2 đối với bệnh nhân dương tính HER2. Những phương pháp mới hơn, bao gồm cả palbociclib (Ibrance) và Everolimus (Afinitor) là phương pháp điều trị đích sử dụng cho ung thư vú di căn dương tính ER, âm tính HER2. Phương pháp điều trị đích cũng được sử dụng để ngăn chặn sự phát triển của ung thư đã di căn xương hoặc giúp bảo vệ sức khỏe của xương.

Liệu pháp điều trị đích HER2

Một số thuốc phổ biến như: Trastuzumab, Pertuzumab (Perjeta), Ado-trastuzumab emtansine hoặc T-DM1(Kadcyla), Lapatinib (Tykerb).

NẾU CÁC LIỆU PHÁP ĐIỀU TRỊ TRÊN THẤT BẠI?

Việc điều trị ung thư không phải lúc nào cũng hiệu quả. Nếu ung thư không thể kiếm soát, ung thư sẽ được gọi là ở giai đoạn tiến triển hoặc ung thư giai đoạn muộn. Ở một trường hợp, những lựa chọn điều trị cho bệnh nhân rất hạn chế, và ung thư trở nên rất khó kiểm soát.

Tất nhiên, nhận được thông tin điều trị thất bại khiến không chỉ bệnh nhân mà cả bac sĩ nản lòng. Tuy nhiên, cũng cần phải chấp nhận và trò chuyện một cách thực lòng với bác sĩ và nhóm điều trị về cảm giác, mong muốn và những điều lo lắng của bạn. Nhóm điều trị sẵn sàng hỗ trợ bạn. Giai đoạn này, điều trị chăm sóc giảm nhẹ cho bệnh nhân ung thư là vô cùng quan trọng. Giúp người bệnh có chất lượng cuộc sống tốt hơn, giảm đau đớn.

Tác dụng phụ

Kiểm soát những tác dụng phụ kéo dài hoặc những tác dụng phụ xuất hiện muộn.

Đa số bệnh nhân có tác dụng phụ sau khi điều trị. Tuy nhiên, có những tác dụng phụ xuất hiện rất muộn hoặc có thể kéo dài rất lâu nhiều tháng, nhiều năm. Trao đổi với bác sĩ về những nguy cơ xuất hiện những tác dụng phụ đó, về liệu trình điều trị của bạn, về sức khỏe tổng thể của bạn. Nếu bạn đang tiến hành một phương pháp điều trị được khuyến cáo là gây ra những tác dụng phụ lâu dài hoặc những tác dụng phụ xuất hiện muộn, bạn cần có những chẩn đoán thẻ chất, kiểm tra máu, chụp chiếu để kiểm soát chúng.

Tác dụng phụ lâu dài sau phẫu thuật: Sau phẫu thuật cắt bỏ khối u hoặc cắt bỏ vú, bệnh nhân có thể bị sung, hoặc bị thay đổi kích thước vú hoặc khu vực quanh vú trở nên cứng hơn.

Tác dụng phụ lâu dài sau xạ trị: Một số bệnh nhân bị khó thở, ho khan, đau ngực 2 đến 3 tháng sau khi xạ trị bởi điều trị này có thể dẫn đến sung, cứng phổi.

Tác dụng phụ lâu dài do hóa trị: Bệnh nhân có thể gặp phải nguy cơ mắc các bệnh tim mạch.

Tác dụng phụ do điều trị hocmon: Bệnh nhân sử dụng Tamoxifen nên khám xương chậu hàng năm, bởi thuốc này làm tăng nguy cơ ung thư cổ tử cung. Bệnh nhân sử dụng AI, ví dụ như: anastrozole, exemestane, or letrozole nên kiểm tra mật độ xương trong quá trình sử dụng thuốc, bởi thuốc này gâu yếu xương, loãng xương.

Thêm vào đó, phụ nữ hồi phục sau điều trị ung thư vú có thể có những tác dụng phụ kéo dài. Tuy nhiên, những tác dụng phụ này có thể được kiểm soát bởi các liệu pháp y học. Một số tác dụng phụ lâu dài như:

  • Bệnh liên quan đến thần kinh
  • Triệu chứng mãn kinh
  • Đau khớp
  • Mệt mỏi
  • Thay đổi tâm trạng
  • Khô âm đạo và giảm ham muốn tình dục.

Việc điều trị phụ thuộc phác đồ từng người bệnh và loại ung thư điều trị. Do đó, các tác dụng phụ cũng sẽ khác nhau tùy từng bệnh nhân. Tham khảo ý kiến bác sĩ khi gặp phải những tác dụng phụ nên trên.

Theo dõi chăm sóc

TRÊN TRANG NÀY: Bạn sẽ biết thêm về những việc cần làm sau khi điều trị ung thư kết thúc, và hiểu được tại sao chăm sóc giảm nhẹ lại quan trọng. Để xem trang khác, bạn có thể sử dụng thanh công cụ Menu.

Chăm sóc cho bệnh nhân ung thư chưa dừng lại ở các phác đồ điều trị của bác sĩ. Đội ngũ y bác sĩ sẽ tiếp tục kiểm tra thường xuyên để đảm bảo rằng khối u không quay lại, kiếm soát tác dụng phụ và kiểm soát sức khỏe tổng thể. Những công việc trên được gọi là chăm sóc sau khi ra viện.

Việc chăm sóc này bao gồm cả những kiểm tra thể chất định kỳ, các xét nghiệm sinh hóa để kiểm soát sự phục hồi cơ thể cho những năm tháng tiếp theo.

THEO DÕI TÁI PHÁT

Một trong những mục tiêu của chăm sóc sau khi ra viện là kiểm tra phòng ngừa ung thư tái phát. Ung thư tái phát vì một phần nhỏ tế bào ung thư đã bị bỏ sót và không thể phát hiện được bằng các kĩ thuật xét nghiệm chẩn đoán. Qua thời gian, những tế bào này có thể tăng lên về số lượng cho đến khi các thiết bị xét nghiệm có thể phát hiện được chúng và lúc đó có thể khối ung thư tái phát đã gây ra triệu chứng bất thường trong cơ thể.
Trong quá trình theo dõi sau điều trị, một bác sĩ trong nhóm điều trị cũ của bạn sẽ cho bạn biết tỷ lệ nguy cơ ung thư của bạn tái phát. Hiểu về nguy cơ ung thư tái phát và những phương pháp điều trị giúp bạn chuẩn bị tốt hơn trong trường hợp ung thư quay trở lại và giúp bạn có quyết định dễ dàng hơn trong việc điều trị.

Ung thư vú có thể quay trở lại bên trong vú hoặc ở một vị trí nào đó trong cơ thể. Nhìn chung, ung thư vú tái phát khi một người bắt đầu thấy những triệu chứng hoặc những kết quả bất thường khi đi xét nghiệm kiểm tra.

Sống khỏe sau hóa xạ trị

Thế nào là thoát khỏi ung thư?

Từ này có ý nghĩa rất khác nhau tùy thuộc từng người. Có 2 định nghĩa phổ biến nhất:

  • Không còn triệu chứng ung thư sau khi kết thúc điều trị
  • Quá trình sống với, vượt qua và thoát khỏi ung thư. Theo đó, thoát khỏi ung thư bắt đầu từ thời điểm chẩn đoán và bao gồm những người vẫn tiếp tục ó những điều trị lâu dài để giảm thiểu nguy cơ tái phát hoặc để kiếm soát bệnh mãn tính.

Ở một khía cạnh nào đó, thoát khỏi ung thư là một trong những yếu tố phức tạp nhất của điều trị ung thư vì nó rất khác nhau ở các bệnh nhân.

Những người sống sót có thể trải qua những xáo trộn về cảm xúc, bao gồm cả sự hào hứng, sự lo lắng, sự thoải mái, hay cả sự sợ hãi. Nhiều bệnh nhân ung thư nói rằng họ cảm thấy yêu cuộc đời hơn sau khi bị chẩn đoán ung thư. Một số khác trở nên rất hoảng loạn, lo lắng về sức khỏe của họ và cũng không biết được họ sẽ phải đối mặt với cuộc sống phía trước như thế nào? Một số khác cố gắng bỏ qua tất cả, xem như cuộc sống của mình vẫn tiếp diễn bình thường.

Những người thoát khỏi ung thư có thể bị stress (căng thẳng) khi phải khám định kỳ thường xuyên và điều trị sau khi xuất viện.

Mỗi bệnh nhân ung thư sau khi thoát án tử đều có những nỗi lo và những thách thức riêng, với mỗi thách thức, điều quan trọng đầu tiên là phải nhận thức được nỗi sợ hãi và chia sẻ nỗi sợ hãi đó với gia đình và bác sĩ. Bạn cần:

  • Hiểu về những thách thức mà bạn đang phải đối mặt
  • Nghĩ về những giải pháp
  • Hỏi ý kiến bác sĩ và tuân thủ điều trị của bác sĩ
  • Hãy để mình cảm thấy thoải mái với những lựa chọn của bạn

Rất nhiều bệnh nhân thoát khỏi ung thư cảm thấy an tâm hơn khi có một nhóm bác sĩ chuyên khoa hỗ trợ hoặc một cộng đồng ung thư trên mạng như cộng đồng “Cuộc chiến ung thư” do Chiến binh Trần Đồng (bệnh nhân thoát khỏi ung thư vòm họng). Điều này cho phép bạn trò chuyện với những người có cùng hoàn cảnh.

Vai trò của người chăm sóc

Người chăm sóc đóng vai trò rất quan trọng trong việc hỗ trợ người bệnh bị chẩn đoán ung thư, hỗ trợ thể chất, tinh thần, chăm sóc hàng ngày hay cho những nhu cầu căn bản. Tuy nhiên, khi điều trị đã kết thúc, vai trò của người chăm sóc thường thay đổi. Cuối cùng, sự cần thiết của người chăm sóc liên quan đến chẩn đoán ung thư sẽ giảm dần hoặc không cần thiết.

Thay đổi lối sống

Đối với rất nhiều người, việc thoát khỏi ung thư là động lực vô cùng lớn để học thay đổi lối sống của bình. Bệnh nhân sau khi đã hồi phục được khuyến khích tuân thủ một hướng dẫn chăm sóc sức khỏe chuẩn, ví dụ như: Không hút thuốc, ăn uống lành mạnh, kiểm soát stress, điều chỉnh hoạt động thể chất giúp phục hồi sức khỏe và năng lượng sống.

Bạn nên tham khảo ý kiến bác sĩ về những bài tập thể dục phù hợp với mình, phù hợp với nhu cầu của bạn, tình trạng thế chất hiện tại… Đa số bệnh nhân cảm thấy việc tập thể dụng với những người bạn sẽ khiến họ cảm thấy thoải mái và dễ theo đuổi lâu dài hơn.

Những thông tin trên đây chỉ mang tính tham khảo, bạn nên hỏi ý kiến bác sĩ trước khi quyết định sử dụng thuốc hay bất kỳ liệu pháp nào đó.

Đối tác

Loading..