Ung thư Tiền liệt tuyến

Tổng quan

TRÊN TRANG NÀY: Bạn sẽ tìm thấy những thông tin cơ bản về căn bệnh ung thư tiền liệt tuyến và những cơ quan mà nó có thể ảnh hưởng tới. Đây là bài viết đầu tiên trong chuyên mục căn bệnh ung thư tiền liệt tuyến. Để xem thêm những căn bệnh ung thư khác, bạn vui lòng sử dụng thanh công cụ Menu ở phía trên.

Giới thiệu về tuyến tiền liệt

Tiền liệt tuyến là một tuyến có kích thước bằng quả óc chó nằm sau dương vật người đàn ông. Phía trước trực tràng, phái dưới bang quang. Nó nằm bao quanh niệu đạo, một cái ống dẫn nước tiểu từ bàng quang ra ngoài qua đường dương vật. vai trò chính quả niệu đạo là sản xuất thành phần của tinh dịch, dịch do niệu đạo tiết ra bảo vệ, nuôi nấng và giúp vận chuyển tinh trùng.

Về ung thư tiền liệt tuyến

Ung thư bắt đầu khi những tế bào khỏe mạnh trong tiền liệt tuyến thay đổi và không thể kiểm soát, dần hình thành nên khối u. Khối u có thể là lành hoặc ác tính. Với ung thư thì khối u là ác tính, có khả năng xâm lấn, di căn đến các vùng khác trong cơ thể. Khối u lành nghĩa là khối u không có khả năng phát triển và phát tán.

Ung thư tiền liệt tuyến là một điều gì đó hơi khác một chút khi so sánh với các loại ung thư khác. Bởi lẽ khối u tiền liệt tuyến không lây lan ra các cơ quan khác. Một số khối u tiền liệt tuyến phát triển rất chậm và có thể không gây ra bất kỳ dấu hiệu triệu chứng nào. Thậm chí khi ung thư có di căn đến cơ quan khác thì các triệu chứng vẫn được kểm soát rất tốt, cho phép người đàn ông ung thư tiền liệt tuyến sống một cuộc sống thoải mái trong vài năm. Tuy nhiên, nếu ung thư không được kiểm soát tốt, nó có thể gây đau đớn, mệt mỏi và dẫn đến tử vong.

Về kháng nguyên đặc hiệu tuyến tiền liệt (PSA)

PSA là một loại Protein sản xuất bởi các tế bào tuyến tiền liệt. PSA được phát hiện khi tiến hành xét nghiệm máu. Chỉ số PSA thường cao ở những bệnh nhân ung thư tiền liệt tuyến cũng như những bệnh nhân mang khối u lành tiền liệt tuyến. Có trên 95% ung thư tiền liệt tuyến thuộc dạng ung thư biểu mô. Một dạng khác ít gặp hơn là dạng ung thư thần kinh nội tiết.

Thống kê

TRÊN TRANG NÀY: Bạn sẽ tìm thấy những thông tin về số lượng đàn ông bị chẩn đoán ung thư tiền liệt tuyến mỗi năm. Bạn cũng sẽ tìm thấy một số thông tin chung về tỉ lệ sống sót sau điều trị. Lưu ý rằng, tỉ lệ sống phụ thuộc nhiều yếu tố khác nhau. Bạn có thể sử dụng thanh Menu phía trên để tìm đọc những bài viết khác.

Ung thư tiền liệt tuyến khá phổ biến ở nam giới. Năm ngoái, có tới 180.890 người đàn ông ở Mỹ bị chẩn đoán ung thư tiền liệt tuyến. 92% bệnh nhân ung thư tuyến tiền liệt được phát hiện khi khối u đang nằm trong truyến tiền liệt hoặc cơ quan xung quanh.

Tỷ lệ sống 5 năm cho chúng ta biết một người đàn ông có thể sống ít nhất 5 năm sau khi bị chẩn đoán ung thư.

Tỉ lệ sống sót 5 năm của bệnh nhân ung thư tuyến tiền liệt là 99%, tỉ lệ sống 10 năm là 98% và tỉ lệ sống 15 năm là 95%. Những chỉ số trên không còn đúng khi bạn thoát khói ung thư (nghĩa là cuộc sống của bạn sẽ kéo dài hơn rất nhiều). Đối với bệnh nhân đã di căn sang các bộ phận khác, tỉ lệ này còn 28%.

Ung thư tiền liệt tuyến là bệnh ung thư xếp thứ 2 trong số các bệnh ung thư gây tử vong ở nam giới. Theo thống kê, có đến 26,120 người chết từ căn bệnh này mỗi năm.

Tỷ lệ sống của bệnh nhân liên quan đến loại bệnh và giai đoạn bệnh. Một điều quan trong chúng ta phải biết, những con số đưa ra ở trên không hoàn toàn đúng với bạn. Bởi chúng ta cũng biết, ung thư là căn bệnh nguy hiểm và phức tạp việc điều trị phụ thuộc tình trạng của từng người. Tuy nhiên, nhìn chung, uung thư tuyến tiền liệt là một trong những căn bệnh ung thư nhẹ nhất, bệnh nhân có thời gian sống lâu nhất.

Những yếu tố rủi ro

TRÊN TRANG NÀY: Bạn sẽ biết thêm về những yếu tố nguy cơ làm tăng tỉ lệ mắc ung thư. Để xem những bài viết khác theo chuyên mục, bạn vui lòng sự dụng thanh Menu bên trên.

Một yếu tố được gọi là nguy cơ khi nó làm tăng nguy cơ phát triển thành ung thư. Có những yếu tố làm tăng nguy cơ trực tiếp những cũng có những nguy cơ gián tiếp, nhiều người có các yếu tố nguy cơ những lại không phát triển thành ung thư trong khi số khác không có yếu tố nguy cơ nào cũng mắc ung thư. Tuy nhiên, hiểu biết về những yếu tố nguy cơ giúp giúp bạn cũng như bác sĩ có những hướng xử lý hiệu quả hơn.

Những yếu tố nguy cơ gây ung thư tiền liệt tuyến được xem xét:

Tuổi tác: tuổi càng cao nguy cơ mắc ung thư tiền liệt tuyến càng cao, đặc biệt sau tuổi 50, Trên 80% ung thư tiền liệt tuyến được chẩn đoán ở những người đàn ông 65 tuổi trở lên.

Tiền sử gia đình: Ung thư tiền liệt tuyến có thể có yếu tố di truyền, chiếm đến 5% số ca mắc. Nguyên nhân là do sự kết hợp giữa những gen di truyền, yếu tố môi trường và lối sống.

Nếu một người đàn ông có bố hoặc con trai hoặc an hem trai mắc ung thư tiền liệt tuyến, nguy cơ mắc ung thư tiền liệt tuyến của người đàn ông đó cao hơn từ 2 đến 3 lần so với người bình thường. Và nếu trong gia đình càng có nhiều người mắc ung thư thì nguy cơ này càng tăng cao.

Hội chứng di truyền ung thư vú – buồng trứng:

Đây là hội chứng liên quan đến đột biến gen BRCA1 hoặc/ và BRCA2. Hội chứng này thường liên quan đến sự gia tăng nguy cơ ung thư vú và buồng trứng. tuy nhiên, nếu người đàn ông có hội chứng này cũng có nguy cơ gia tăng ung thư vú (ung thư vú ở nam) và ung thư tiền liệt tuyến. Đột biến gen BRCA1 và BRCA2 chỉ gây ra một lượng nhỏ số ca ung thư di truyền (Tức là vẫn có tính di truyền nhưng không cao). Do đó, để đảm bảo an toàn sức khỏe, đàn ông có đột biến gen trên cần đi tầm soát ung thư tiền liệt tuyến sớm.

Những thay đổi khác trong Gen:

Những gen khác cũng làm tăng nguy cơ ung thư tiền liệt tuyến là HPC1, HPC2, HPCX, và CAPB. Tuy nhiên, những gen này không chưa được chứng minh cụ thể cơ chế gây ung thư tiền liệt tuyến. Những nghiên cứu phân tích tìm ra những Gen có liên quan mật thiết đến ung thư đang được tiến hành và các nhà khoa học vẫn không ngừng nỗ lực tìm kiếm câu trả lời tại sao những thay đổi trong gen lại dẫn đến ung thư tiền liệt tuyến.

Giải pháp phòng ngừa.

Những yếu tố khác nhau gây nên những loại ung thư khác nhau. Các nhà khoa học đang tiếp tục nghiên cứu chi tiết những yếu tố nguy cơ nào gây nên loại ung thư gì.Mặc dù vẫn chưa có một phương pháp chuẩn nào có thể ngăn chặn hoàn toàn căn bệnh ung thư, tuy nhiên chúng ta vẫn có thể giảm nguy cơ mắc ung bằng những cách được nêu dưới đây.

Liệu pháp hocmon và hóa trị dự phòng

Nồng độ Testosterone cao, một hocmon sinh dục nam, có thể làm tăng nguy cơ phát triển ung thư tiền liệt tuyến. Thêm vào đó, ngăn chặn cơ thể sản xuất testosterone, gọi là liệu pháp ức chế androgen cũng có thể làm nhỏ kích thước khối u. Bạn sẽ được xem thông tin chi tiết ở mục “Lựa chọn điều trị”.

Một nhóm thuốc gọi là Nhóm Ức chế 5-Alpha Reductase có thể giảm nguy cơ mắc ung thư tiền liệt tuyến ở nam.

Một số nghiên cứu trước đây khuyến cao nhóm Ức chế 5-Alpha Reductase có liên quan đến việc tăng nguy cơ phát triển ung thư tiền liệt tuyến, nhưng một nghiên cứu mới nhất cho thấy kết quả trên là không đúng sự thật. Một điều thú vị là, theo kết quả của một nghiên cứu theo dõi trong thời gian dài được công bố năm 2013, 78% người đàn ông ung thư tiền liệt tuyến sử dụng thuốc finasteride hoặc giả dược sống sót 15 năm. Kết quả nghiên cứu cho thấy, sử dụng finasteride không làm giảm nguy cơ tử vong do ung thư tiền liệt tuyến.

Thay đổi chế độ ăn uống

Chưa có đủ thông tin ở thời điểm này để có thể có một gợi ý chính xác nhất về vai trò của chế độ ăn uống trong phòng ngừa và hỗ trợ điều trị ung thư tiền liệt tuyến. Chế độ ăn uống nên được thay đổi từ sớm theo một cách khoa học để giảm rủi ro phát triển ung thư tiền liệt tuyến.

Sau đây là một số gợi ý:

Một chế độ ăn giàu chất béo, đặc biệt là mỡ động vật có thể làm tăng nguy cơ mắc ung thư. Tuy nhiên vẫn chưa có một nghiên cứu cụ thể nào tiến hành nhằm đánh giá tỉ lệ ung thư giữa nhóm người ăn nhiều mỡ và ít mỡ.

Chế độ ăn nhiều rau, hoa quả có thể giảm nguy cơ ung thư tiền liệt tuyến. Tuy nhiên vẫn chưa rõ yếu tố dinh dưỡng cụ thể nào có tác dụng giảm nguy cơ cao nhất. Dù vậy, Lycopen, hoạt chất được tìm thấy trong cà chua và nhiều loại rau củ khác có liên quan đến khả năng giảm nguy cơ phát triển ung thư tiền liệt tuyến.

Tầm soát ung thư

TRÊN TRANG NÀY: Bạn sẽ biết được cách chúng ta tầm soát loại ung thư này, bao gồm cả nguy cơ và lợi ích của tầm soát. Để xem những bài viết khác theo chuyên mục, bạn vui lòng sử dụng thanh công cụ Menu ở phía trên.

Các nhà khoa học đã phát triển và tiếp tục phát triển những xét nghiệm có thể nhận diện mỗi loại ung thư đặc thù trước khi những triệu chứng ung thư xuất hiện (Khi xuất hiện triệu chứng nghĩa là ung thư đã bắt đầu giai đoạn nặng). Mục tiêu chung của tầm soát ung thư là:

  • Giảm thiểu số người mắc ung thư
  • Giảm số người chết vì ung thư

Xác định những người có nguy cơ cao mắc ung thư, từ đó khuyến cáo họ đi tầm soát thường xuyên hơn.
Sau đây là một số phương pháp tầm soát ung thư tiền liệt tuyến phổ biến:

Khám trực tràng bằng ngón tay. Đây là một xét nghiệm mà bác sĩ sẽ dùng bao tay và đưa ngón tay vào hậu môn người đàn ông và cảm nhận bề mặt của tiền liệt tuyến.

Kiểm tra máu PSA. Có nhiều trang cãi trong việc sử dụng kiểm tra PSA để tầm soát ung thư tiền liệt tuyến khi mà người đàn ông chưa có dấu hiệu nào của bệnh. Một mặt, kiểm tra PSA hiệu quả trong việc phát hiện ung thư tiền liệt tuyến giai đoạn sớm. Một mặt khác, xét nghiệm máu PSA tìm ra các điều kiện cho thấy cơ thể không bị ung thư, từ đó, những liệu pháp điều trị không cần thiết có thể bị cắt bỏ nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống cho người bệnh.

Dấu hiệu triệu chứng

TRÊN TRANG NÀY: bạn sẽ có thêm thông tin và những thay đổi trong cơ thể và những vấn đề khác có thể là dấu hiệu để bạn phải đến gặp bác sĩ kiểm tra. Để xem trang khác, bạn vui lòng sử dụng thanh công cụ Menu phía trên.

Thông thường, ung thư tiền liệt tuyến được phát hiện khi xét nghiệm PSA hoặc DRE đối với những bệnh nhân giai đoạn sớm và chưa hề có triệu chứng nào điển hình. Nếu xét nghiệm PSA hoặc DRE cho thấy bạn bị ung thư tiền liệt tuyến, sẽ có thêm một số xét nghiêm khác cần thiết được tiến hành. Khi ung thư tiền liệt tuyến gây nên những triệu chứng hoặc dấu hiệu bất thường, khi đó có thể ung thư đã ở giai đoạn muộn. Những triệu chứng có thể là:

  • Đi tiểu thường xuyên
  • Dòng chảy yếu hoặc dòng chảy ngắt quãng
  • Có máu trong nước tiểu
  • Tiểu đêm nhiều
  • Rối loạn cương dương
  • Đau hoặc nóng rát khi đi tiểu (không phổ biến)
  • Cảm giác không thoải mái khi ngồi

Có lúc, bệnh nhân ung thư tiền liệt tuyến không hề có những dấy hiệu trên, hoặc những dấu hiệu trên không phải do ung thư tiền liệt tuyến gây ra mà do dùng thuốc gì đó gây ra tác dụng phụ tương tự.

Nếu ung thư đã lây lan ra bên ngoài tiền liệt tuyến, bệnh nhân có thể bị:

  • Đau ở lưng, hông, vai hoặc xương khác
  • Phù chân hoặc bàn chân
  • Sụt cân không rõ nguyên nhân
  • Mệt mỏi

Đau lưng, hông là một trong những triệu chứng sớm của ung thư tuyến tiền liệt

Nếu bạn lo lắng về những triệu chứng của mình, hãy đến gặp bác sĩ. Bác sĩ có thể sẽ hỏi bạn một số vấn đề liên quan đến thời gian bạn bị và tần suất xuất hiện những triệu chứng trên hoặc một số câu hỏi khác để tìm ra nguyên nhân, chẩn đoán.

Nếu bị chẩn đoán ung thư, việc giảm nhẹ hoặc điều trị tác dụng phụ hiện tại là một nhiệm vụ quan trọng. Việc này gọi là kiểm soát dấu hiệu triệu chứng, chăm sóc giảm nhẹ hoặc hỗ trợ điều trị. Hãy chắc chắn rẳng bạn đã nói rõ với bác sĩ về những triệu chứng của mình.

Chuẩn đoán

TRÊN TRANG NÀY: Bạn sẽ được biết những kiểm tra, quy trình và kỹ thuật giúp bác sĩ có thể phát hiện những bất thường và xác định nguyên nhân vấn đề. Để xem một trang chuyên mục khác, bạn vui lòng sử dụng thanh công cụ ở bên trên.

Bác sĩ sử dụng rất nhiều xét nghiệm để chẩn đoán ung thư và xác định liệu ung thư đã xâm lấn hay di căn đến bộ phận khác cơ thể hay chưa. Một số xét nghiệm có thể giúp bác sĩ quyết định nên lựa chọn liệu pháp điều trị nào là phù hợp nhất với người bệnh. Đa số trường hợp, sinh thiết là cách chuẩn xác nhất để xác định khối u là lành hay ác tính. Sinh thiết là cách lấy đi một phần mô nhỏ ở khối u sau đó mang đi soi kính hiển vi. Nếu không thể sinh thiết, bác sĩ có thể gợi ý một số xét nghiệm khác. Xét nghiệm hình ảnh có thể xác định liệu khối u đã di căn hay chưa.

Danh sách dưới đây mô tả những lựa chọn chẩn đoán ung thư. Tất nhiên không phải ai cũng làm hết các xét nghiệm này. Bác sĩ sẽ phải cân nhắc nhiều về những yếu tố như:

  • Tuổi tác và tình trạng sức khỏe.
  • Loại ung thư đang được nghi ngờ.
  • Dấu hiệu cũng như triệu chứng.
  • Những kết quả xét nghiệm trước đó.

Xét nghiệm sơ bộ:

Xét nghiệm PSA: PSA là một loại protein do tiền liệt tuyến tiết ra, chỉ số này thường cao ở những bệnh nhân ung thư tiền liệt tuyến. Bác sĩ có thể xem chỉ số PSA để quyết định liệu có cần tiến hành sinh thiết hay không ? Thêm vào đó, một loại xét nghiệm PSA khác có thể cho phép bác sĩ đo thành phần cụ thể, gọi là phương pháp Free PSA, có thể giúp bác sĩ chẩn đoán khối u lành tính hay ác tính.

DRE: Bác sĩ sử dụng DRE để tìm ra những vùng bất thường trong tuyến tiền liệt bằng cách sử dụng ngón tay đưa qua đường hậu môn.

Xét nghiệm đánh dấu sinh học: Một chất đánh dấu sinh học là chất được tìm thấy trong máu, nước tiểu, hoặc mô trong cơ thể bệnh nhân ung thư. Nó được sản xuất bởi khối u hoặc do cơ thể sản xuất để phản ứng lại khối u. Chất chỉ thị sinh học này cũng được gọi là chất chỉ điểm khối u. Xét nghiệm chất chỉ điểm khối u cho ung thư tiền liệt tuyến bao gồm điểm 4K, giúp chẩn đoán nguy cơ người đàn ông bị ung thư tiền liệt tuyến và chỉ số tiền liệt tuyến khỏe mạnh (PHI) cũng chẩn đoán nguy cơ ung thư tiền liệt tuyến.

Xét nghiệm lại

Nếu chỉ số PSA hoặc DRE cho kết quả bất thường, bác sĩ sẽ chỉ định cho bệnh nhân thêm một số xét nghiệm sau:

Xét nghiệm PCA3. Đây là xét nghiệm kiểm tra gen PCA3 trong nước tiểu. Không giống như PSA, gen PCA3 chỉ được tìm thấy trong nước tiểu bệnh nhân ung thư. Sử dụng xét nghiệm nước tiểu, bác sĩ có thể phát hiện liệu gen này có xuất hiện trong cơ thể hay không. Xét nghiệm này không phải là xét nghiệm để thay thế PSA, nó chỉ được dùng kèm với xét nghiệm PSA giúp bác sĩ quyết định liệu có nên sinh thiết hay không.

Siêu âm qua trực tràng. Bác sĩ sẽ đưa một ống dò qua hậu môn sau đó ghi nhận những hình ảnh từ tiền liệt tuyến bằng cách sử dụng sóng siêu âm dội lại từ tiền liệt tuyến. Phương pháp này thường làm đồng thời với sinh thiết.

Sinh thiết. Lấy một phần mô nhỏ trong khối u rồi amng đi kiểm tra dưới kính hiển vi. Đây là phương pháp xét nghiệm chuẩn xác nhất giúp bác sĩ trả lời câu hỏi, liệu một bệnh nhân có bị ung thư hay không.

Sinh thiết kết hợp MRI. Đây là phương pháp kết hợp chụp MRI và siêu âm trực tràng. Bệnh nhân đầu tiên sẽ được chụp MRI để xác định vùng khả nghi. Sau đó bệnh nhân tiếp tục được siêu âm. Sau đó, phần mềm máy tính sẽ kết hợp những hình ảnh này lại để xây dựng hình ảnh 3D chi tết.

Kiểm tra ung thư đã di căn hay chưa

Để xác định liệu ung thư đã di căn ra ngoài tiền liệt tuyến, bác sĩ có thể sử dụng các phương pháp chẩn đoán dưới đây.

Kiểm tra xương. Phương pháp này sử dụng chất đánh dấu phóng xạ để quan sát hình thái xương. Chất đánh dấu được tiêm tĩnh mạch vào cơ thể người bệnh. Xương khỏe mạnh sẽ hiện màu xám còn xương tổn thương sẽ hiện màu tối.

Chụp CT hoặc CAT. Phương pháp này tạo hình ảnh 3 chiều bên trong cơ thể sử dụng tia X. Sau đó, dữ liệu được đưa vào máy tính và kết hợp những hình ảnh lại với nhau cho kết quả chuẩn xác nhất về khu vực nghi ngờ hoặc cụ thể hơn là khối u. Phương pháp chụp CT có thể đo kích thước khối u. Một số trường hợp bác sĩ sẽ cho bệnh nhân sử dụng một chất nhuôm giúp hình ảnh rõ nét hơn. Chất nhuộm có thể dùng dạng uống hoặc dạng tiêm.

Chụp MRI. Dùng từ trường (không phải tia X quang) để tạo ra những hình ảnh của cơ thể. Phương pháp này cũng có thể đo kích thước khối u. Bệnh nhân được sử dụng thuốc nhuộm trước khi tiến hành chụp. Thuốc nhuộm có thể ở dạng tiêm hoặc dạng uống.

Giai đoạn bệnh

TRÊN TRANG NÀY:  Bạn sẽ biết được cách bác sĩ phân loại quá trình phát triển của khối u. Để xem một trang khác, bạn vui lòng sử dụng thanh Menu.

Giai đoạn ung thư là một cách để mô tả vị trí khối u hoặc những vị trí mà khối u đã di căn, xâm lấn kể cả những phần mà khối u đã ảnh hưởng đến. Bác sĩ sử dụng những xét nghiệm chẩn đoán để xác định giai đoạn của khối u, do đó, việc phân loại giai đoạn khối u chỉ được tiến hành khi những xét nghiệm cần thiết đã hoàn thành và cho kết quả. Biết về giai đoạn bệnh giúp bác sĩ có thể quyết định liệu pháp điều trị nào là hiệu quả nhất với bệnh nhân và cũng có thể giúp chẩn đoán tiên lượng của bệnh, cơ hội sống của người bệnh.

 Nhìn chung, giai đoạn bệnh càng sớm thì tỉ lệ thành công trong điều trị sẽ cao hơn. Tuy nhiên, không bác sĩ nào có thể đoán được bệnh nhân sẽ sống bao lâu nữa với căn bệnh ung thư tiền liệt tuyến chỉ dựa trên giai đoạn bệnh. Bởi ung thư này ở mỗi bệnh nhân là khác nhau và các liệu pháp điều trị có hiệu quả khác nhau với từng người bệnh.

Phân loại theo hệ thống TNM

Một công cụ bác sĩ hay sử dụng để phân loại bệnh là hệ thống TNM, bác sĩ sử dụng hệ thống này để trả lời các câu hỏi:

Tumor (T – Khối u): Kích thước khối u là bao nhiêu, nó nằm ở vị trí nào?

Node (N – hạch): Ung thư đã di căn hạch hay chưa? Nếu đã di căn hạch, thì việc trí và có bao nhiêu hạch di căn?

Metastasis (M- Di căn): Ung thư đã di căn đến các bộ phận khác trong cơ thể? Nếu đã di căn thì di căn những vị trí nào?

Kết quả sẽ được kết hợp để xác định giai đoạn ung thư ở mỗi bệnh nhân. Có 5 giai đoạn: 0, I, II, III, IV.

Dưới đây là những thông tin chi tiết:

Tumor (T): 

Trong hệ thống TNM, chữ T cộng thêm 1 chữ cái đi sau hoặc một con số từ 0 đến 4 đi sau để mô tả kích thước và vị trí khối u. Một số giai đoạn còn được phân nhỏ chi tiết giúp miêu tả chính xác nhất tình trạng khối u.

  • TX: Khối u nguyên phát không thể đo được (nhỏ quá)
  • T0 (T có số 0 phía sau): Không có dấu hiệu khối u trong tiền liệt tuyến.
  • T1: Khối u không sờ thấy khi tiến hành DRE (bác sĩ dùng ngón tay cảm nhận tiền liệt tuyến qua hậu môn) và khối u cũng không được phát hiện thấy trên các xét nghiệm hình ảnh.
  • T1a: Khối u nhỏ hơn 5% kích thước mô tiền liệt tuyến bị lấy ra khi phẫu thuật.
  • T1b: Khối u lớn hơn 5% kích thước mô tiền liệt tuyến bị lấy ra khi phẫu thuật.
  • T1c: Khối u được tìm thấy trong quá trình sinh thiết, đa phần là do bệnh nhân có bất thường trong xét nghiệm PSA nên bác sĩ chỉ định thêm sinh thiết.
  • T2: Khối u chỉ tìm thấy trong tuyến tiền liệt, chưa có xuất hiện ở các cơ quan khác. Kích thước khối u đủ lớn để bác sĩ có thể cảm nhận được khi DRE (sử dụng ngón tay kiểm tra qua đường hậu môn).
  • T2a: Khối u chỉ ở 1 thùy tiền liệt tuyến.
  • T2b: Khối u chiếm hơn một nửa thùy tuyến tiền liệt, những chưa sang cả 2 thùy
  • T2c: Khối u nằm ở cả 2 thùy
  • T3: Khối u phát triển qua lớp vỏ tiền liệt tuyến ở một bên và vào vùng mô bên ngoài tiền liệt tuyến, trong nhóm này có T3a và T3b
  • T4: Khối u cố định hoặc nó đang phát triển đến cấu trúc bên cạnh.

Node (N)

Chữ N đại diện cho hạch. Đây là những hạt có kích thước nhỏ hình hạt đậu giúp chống lại viêm nhiễm. Hạch bạch huyết gần tuyến tiền liệt  trong vùng chậu được gọi là hạch bạch huyết vùng.

  • NX: Hạch bạch huyết vùng không xác định được (kích thước nhỏ)
  • N0: Ung thư chưa lan đến hạch bạch huyết vùng.
  • N1: Ung thư đã lây đến hạch vùng.

Metastasis (M)

Chữ M cho biết ung thư tiền liệt tuyến đã di căn đến những vị trí nào trong cơ thể, ví dụ phổi hoặc xương.

  • MX: Ung thư di căn xa không xác định được (kích thước nhỏ)
  • M0: Bệnh chưa có di căn
  • M1: Có khối u di căn xa
  • M1a: Ung thư di căn đến những hạch ngoài hạch vùng
  • M1b: Ung thư di căn xương
  • M1c: Ung thư di căn đến vị trí khác trong cơ thể, có thể bao gồm xương.

PHÂN NHÓM UNG THƯ

Bác sĩ phân nhóm ung thư bằng cách kết hợp các T, N và M (như đã phân tích ở trên).

Giai đoạn I: Ung thư chỉ tìm thấy ở tuyến tiền liệt. Tuy nhiên khối u kích thước nhỏ vẫn không thể phát hiện thấy nếu chỉ tiến hành thăm dò bằng DRE (dùng ngón tay qua hậu môn). Giai đoạn I thường tạo thành bởi nhóm tế bào khá giống với tế bào lành và phát triển chậm.

Giai đoạn IIA và IIB. Giai đoạn này khối u vẫn còn quá nhỏ để có thể cảm nhận thấy hoặc quan sát thấy trên các xét nghiệm hình ảnh. Hoặc nó mô tả rằng một khối u có kích thước lớn hơn một chút và vẫn có thể phát hiện thấy khi bác sĩ DRE. Ung thư vẫn chưa lây lan ra bên ngoài tuyến tiền liệt tuy nhiên tế bào bắt đầu có sự di biệt và tốc độ tăng trưởng nhanh hơn ban đầu. Ung thư giai đoạn 2 chưa lây sang các hạch hoặc cơ quan xa.

Giai đoạn III. Ung thư đã lây vượt quá lớp ngoài của tiền liệt tuyến vào vùng mô lân cận. Nó cũng đã lan sang túi tinh.

Lựa chọn điều trị

TRÊN TRANG NÀY: Bạn sẽ được biết những cách khác nhau bác sĩ sử dụng để điều trị ung thư tiền liệt tuyến. Để xem thêm những bài viết khác, bạn vui lòng sử dụng thanh công cụ Menu.
Phần này đưa ra những phương pháp tổng thể trong việc chăm sóc và điều trị ung thư tiền liệt tuyến. Trong quá trình đưa ra kế hoạch điều trị, bệnh nhân sẽ được khuyến khích tiến hành các thử nghiệm lâm sàng đánh giá hiệu quả cũng như tác dụng phụ trước khi tiến hành nhằm tìm ra phương pháp nào là tốt nhất cho người bệnh.

TỔNG QUAN ĐIỀU TRỊ

Trong chăm sóc bệnh nhân ung thư, bác sĩ sẽ được chia làm các nhóm khác nhau phụ trách những nhóm điều trị chuyên biệt, ví dụ như bác sĩ phẫu thuật, bác sĩ chiếu xạ, bác sĩ truyền hóa. Các nhóm bác sĩ sẽ ngồi với nhau để bàn bạc đưa ra phác đồ điều trị hợp lý nhất. Nhóm điều trị cũng bao gồm một số chuyên gia y tế đặc thù khác: Phụ tá, y tá, dược sĩ, bác sĩ dinh dưỡng…

Phác đồ điều trị phụ thuộc rất nhiều vào tình trạng của bệnh, một số khối u nhỏ nhưng phát triển rất nhanh, trong khi đó một số khác kích thước nhỏ nhưng lại có tốc độ phát triển chậm. Do đó, lựa chọn điều trị phụ thuộc vào từng cá thể. Dưới đây là một số yếu tố quyết định đến lựa chọn điều trị:

  • Giai đoạn của khối u
  • Phân nhóm ung thư.
  • Gen đánh dấu
  • Tuổi, sức khỏe và mong muốn

Dù mỗi bệnh nhân sẽ có những phác đồ cụ thể khác nhau, tuy nhiên, đều tuân theo các bướu điều trị ung thư vú cơ bản.

Điều trị tại chỗ

Điều trị tại chỗ giúp thoát khỏi ung thư nếu khu vực tổn thương đang nhỏ. Điều trị này bao gồm phẫu thuật và xạ trị. Tuy nhiên, nếu ung thư đã lan ra ngoài tuyến tiền liệt, bệnh nhân buộc phải dùng phương pháp điều trị hệ thống.

Phẫu thuật

Là việc cắt bỏ khối u và vùng mô lành xung quanh nhằm đảm bảo không để soát tế bào nào. Loại phẫu thuật được tiến hành phụ thuộc vào giai đoạn bệnh, sức khỏe tổng thế và những yếu tố khác.

Phẫu thuật chia làm 2 loại:

  • Cắt bỏ tuyến tiền liệt tận gốc. Đây là loại phẫu thuật cắt toàn bộ tiền liệt tuyến và túi tinh. Những hạch trong vùng xương chậu cũng có thể được cắt bỏ. Việc phẫu thuật này sẽ ảnh hưởng đến chức năng quan hệ tình dục của người đàn ông. Một số trường hợp bệnh nhân sẽ được tiến hành phẫu thuật bảo tồn tế bào thần kinh, do đó hạn chế rủi ro ảnh hưởng chức năng tình dục sau phẫu thuật.
  • Phẫu thuật robot Da Vinci. Phương pháp phẫu thuật này đỡ xâm lấn hơn phương pháp điều trị phía trên, làm rút ngắn thời gian phục hồi sau phẫu thuật. Một chiếc camera và một số dụng cụ khác sẽ được luồn vào thông qua một lỗ nhỏ trên bụng bệnh nhân. Sau đó, bác sĩ sẽ tiến hành phẫu thuật nội soi để đưa tuyến tiền liệt và một phần mô lành xung quanh ra ngoài.

Xạ trị

Đây là phương pháp sử dụng chùm tia năng lượng cao để tiêu diệt tế bào ung thư. Việc tiến hành xạ trị được tiến hành nhiều đợt trong một khoảng thời gian. Mỗi lần xạ trị có thể kéo dài hoặc ngắn tùy thuộc vào kích thước khối u. Mỗi lần có thể chiếu xạ 15 phút hoặc lâu hơn. Tuy nhiên ở Việt Nam, thời gian đợi để được chiếu xạ chiếm 90% thời gian cho mỗi lần chiếu xạ.

Phân loại xạ trị:

  • Xạ trị ngoài: Đây là phương pháp xạ trị phổ biến nhất. Bác sĩ sẽ sử dụng máy đặt ở bên ngoài cơ thể để tập trung chùm tia vào đúng khu vực ung thư. Một cố ơ sở điều trị sử dụng CRT để xác định vị trí chính xác trước khi tiến hành xạ trị.
  • Xạ trị điều biến liều: Đây là một phương pháp xạ trị ngoài sử dụng kết quả chụp CT để tạo ra hình ảnh 3D của tuyến tiền liệt trước khi phẫu thuật.

Liệu pháp Proton.

Đây cũng là một liệu pháp xạ trị ngoài sử dụng Proton thay vì tia X.

Liệu pháp phóng xạ.

Đây là liệu pháp xạ trị bên trong, đưa nguồn phóng xạ vào trực tiếp tiền liệt tuyến.

Liệu pháp trọng điểm:

Đây là liệu pháp điều trị không xâm lấn, tiêu diệt khối u nhỏ trong tiền liệt tuyến mà không ảnh hưởng đến phần khác của tiền liệt tuyến. Liệu pháp này sử dụng nhiệt, lạnh và những phương pháp khác.

Điều trị hệ thống:

Liệu pháp hệ thống có thể là hóa chất, ADT … để tiêu diệt tế bào ung thư trong toàn bộ cơ thể.

Liệu pháp ức chế Androgen

Bởi ung thư tiền liệt tuến phát triển nhờ những hocmon sinh dục nam gọi là các androgens, giảm nồng độ những hocmon này có thể làm giảm sự phát triển của khối u. Hocmon phổ biến nhất là testosterone. Phương pháp điều trị này được sử dụng để điều trị ung thư tiền liệt tuyến ở nhiều giai đoạn, ung thư khu trú tiến triển, ung thư tái phát hay ung thư di căn.

Tác dụng phụ khi điều trị ức chế androgen

Theo thông lệ, phương pháp này được sử dụng cho bệnh nhân cho phần còn lại của cuộc đời hoặc đến khi mà phương pháp này không còn hiệu quả điều trị nữa. Khi đó bạn cần chuyển sang một phác đồ điều trị khác. Qua 2 thập kỷ trở lại đây, các nhà khoa học đã nghiên cứu công dụng của liệu pháp ức chế hocmon, liệu pháp này giúp giảm thiểu tác dụng phụ do điều trị và nâng cao chất lượng cuộc sống cho người bệnh. Tất nhiên liệu pháp này vẫn gây ra một số tác dụng phụ, những tác dụng phụ này nhanh chóng biến mất sau điều trị, một số tác dụng phụ phổ biến như:

  • Rối loạn cương dương
  • Giảm nhu cầu tình dục
  • Đổ mồ hôi
  • Trầm cảm
  • Tăng cân
  • Teo cơ
  • Truyền hóa chất

Hóa trị là việc sử dụng hóa chất gây độc tế bào, nhăn chặn sự phát triển, phân chia tế bào ung thư. Hóa trị thường được tiến hành bằng đường tĩnh mạch, một số dùng theo đường uống (trong ung thư vú …)

Liệu pháp truyền hóa chất tuy mạnh nhưng để lại nhiều tác dụng phụ. Liệu pháp này thường được tiến hành theo đợt kéo dài có thể 1 tháng hoặc vài tháng. Những tác dụng phụ có thể gặp phải là: Rụng tóc, nôn, tiêu chảy, thiếu máu, sốt, chán ăn, sụt cân, mất ngủ… Mức độ nghiêm trọng của tác dụng phụ này phụ thuộc vào từng bệnh nhân, tùy thuộc vào giai đoạn bệnh và sức khỏe tổng quát của người bệnh.

Liệu pháp miễn dịch

Sipuleucel-T (Provenge) là một loại liệu pháp miễn dịch. Hệ miễn dịch sinh ra để nâng cao sức phòng thủ của cơ thể với ung thư. Liệu pháp này có thể sử dụng những nguyên liệu lấy từ cơ thể hoặc bào chế từ phòng thí nghiệm mục đích tăng cường, hướng đích và hồi phục lại hệ miễn dịch.

Điều trị ung thư tiền liệt tuyến theo giai đoạn

Giai đoạn sớm: Nghĩa là ung thư chỉ mới phát hiện khu trú bên trong tiền liệt tuyến. Giai đoạn này ung thư thường phát triển chậm thậm chí là vài năm trước khi nó xâm lấn ra bên ngoài. Liệu pháp xạ trị hoặc phẫu thuật thường được sử dụng đối với giai đoạn này

Giai đoạn ung thư tiến triển cục bộ

Một số bệnh nhân với khối u lớn hơn, điều trị tại chỗ nư xạ trị và phẫu thuật thường có vẻ không khả thi nếu chỉ sử dụng đơn độc 1 liệu pháp. Việc phẫu thuật cắt bỏ tuyến tiền liệt thường được tiến hành cùng với cắt bỏ hạch trong vùng xương chậu. Những nghiên cứu cho thấy, nếu tiến hành xạ trị bổ trợ làm giảm nguy cơ ung thư tái phát và tăng tỉ lệ ung thư điều trị thành công. Với những cụ ông cao tuổi, thời gian sống mong muốn không còn dài và hiện tại ung thư vẫn chưa gây ra nhiều triệu chứng nghiêm trọng hoặc người bệnh có kèm theo một vài bệnh nguy hiểm khác, bác sĩ thường chỉ cho về nhà chăm sóc theo dõi.

Đối với ung thư tiền liệt tuyến đã di căn

Nếu ung thư đã lan qua những bộ phận khác trong cơ thể, bác sĩ gọi đó là ung thư di căn. Đa số bệnh nhân, một chẩn đoán ung thư di căn khiến bệnh nhân suy sụp. Không có một phương pháp điều trị nào có thể chữa khỏi ung thư di căn. Giai đoạn này, việc phẫu thuật và xạ trị không còn nhiều hiệu quả. Phương pháp sử dụng chủ yếu là hóa trị toàn thân.

 

Tác dụng phụ

Tác dụng phụ của việc điều trị cho bệnh nhân ung thư tiền liệt tuyến phụ thuộc nhiều vào phương pháp điều trị cho bệnh nhân và thường có những biểu hiện khác nhau đối với mỗi trường hợp cụ thể. Tác dụng phụ sau điều trị ung thư tiền liệt tuyến thường là tạm thời và các bác sĩ, y tá sẽ giải thích kỹ càng những tác dụng phụ hay gặp trong quá trình điều trị cũng như gợi ý những cách thức giúp giảm nhẹ triệu chứng cho bệnh nhân.
Những tác dụng phụ bệnh nhân có thể gặp phải:

1 – Những tác dụng phụ liên quan đến thể chất.

Đối phó với những tác dụng phụ liên quan đến thể chất bao gồm đau, nôn, mệt mỏi, thiếu máu, nhiễm trùng… được miêu tả đầy đủ tại NHỮNG TÁC DỤNG PHỤ PHỔ BIẾN KHI ĐIỀU TRỊ UNG THƯ

2 – Đối phó với những tác động tâm lý, xã hội.

Bên cạnh những tác động về mặt thể chất, điều trị ung thư cũng ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống tinh thần người bệnh. Những sang chấn tâm lý bao gồm: Sợ hãi, tức giận, stress…

Bệnh nhân và người nhà của họ luôn được khuyến khích chia sẻ cảm xúc của mình nhiều hơn với những thành viên khác cũng như với các y bác sĩ. Bạn có thể tham khảo thêm cách đối mặt với cú sốc tâm lý để hiểu hơn những điều cần làm sau khi chẩn đoán ung thư.

3 – Vấn đề tài chính.

Điều trị ung thư có thể sẽ tốn kém, và là gánh nặng tâm lý không chỉ bệnh nhân và cả gia đình của họ. Ngoài chi phí điều trị, bệnh nhân phải trả khá nhiều chi phí phát sinh trong đó có chi phí đi lại, nhà ở, ăn uống… Một số bệnh nhân phải dừng điều trị do điều kiện kinh tế không cho phép. Hiện nay chế độ bảo hiểm đã thanh toán giải quyết phần nào vấn đề tài chính và đa số bệnh nhân ung thư đều dùng bảo hiểm. Ngoài ra, bệnh nhân có thể tìm đến những tổ chức từ thiện, những chương trình hỗ trợ hay những thử nghiệm lâm sàng để được hỗ trợ nhiều hơn về mặt tài chính.

4 – Chăm sóc cho một người thân bị ung thư

Những thành viên trong gia đình và bạn bè đóng một vai trò vô cùng quan trọng trong việc chăm sóc bệnh nhân ung thư tiền liệt tuyến. Người chăm sóc có thể hỗ trợ bệnh nhân về mặt tâm lý cũng như thể chất dù cho họ có ở xa hay gần.

Người chăm sóc thường chịu trách nhiệm về khá nhiều vấn đề liên quan đến chăm sóc người bệnh như:

– Thường xuyên động viên và khích lệ
– Quan tâm đến lịch trình uống thuốc của bệnh nhân
– Giúp bệnh nhân kiểm soát những tác dụng phụ
– Là tài xế, xe ôm cho bệnh nhân trong những ngày đến viện.
– Hỗ trợ bệnh nhân về mặt ăn uống, dinh dưỡng
– Làm việc nhà
– Những vấn đề liên quan đến giấy tờ, bảo hiểm, thanh toán…

Do đó, những người trực tiếp chăm sóc bệnh nhân ung thư cũng rất cần được hỗ trợ, có những lúc họ cũng rất căng thẳng, rất buồn, rất bận bịu và vất vả. hiểu được những điều đó, những thành viên khác trong gia đình không chỉ cần động viên bệnh nhân mà còn động viên cả những người ngày đêm chăm sóc.

5 – Nói chuyện với bác sĩ về những tác dụng phụ bệnh nhân gặp phải.

Trước khi bắt đầu điều trị, hãy trao đổi với bác sĩ về những tác dụng phụ có thể gặp phải. Những câu hỏi cần trao đổi:

– Những tác dụng phụ nào có thể xảy ra nhất?
– Chúng thường xuất hiện vào thời điểm nào?
– Chúng ta có thể làm gì để hạn chế tác dụng phụ?

Theo dõi chăm sóc

TRÊN TRANG NÀY: bạn sẽ tìm thấy những thông tin chăm sóc sức khỏe sau khi điều trị kết thúc, và tại sao chăm sóc sau điều trị lại quan trọng?

Chăm sóc cho bệnh nhân ung thư chưa dừng lại ở các phác đồ điều trị của bác sĩ. Đội ngũ y bác sĩ sẽ tiếp tục kiểm tra thường xuyên để đảm bảo rằng khối u không quay lại, kiếm soát tác dụng phụ và kiểm soát sức khỏe tổng thể. Những công việc trên được gọi là chăm sóc sau khi ra viện.

Việc chăm sóc này bao gồm cả những kiểm tra thể chất định kỳ, các xét nghiệm sinh hóa để kiểm soát sự phục hồi cơ thể cho những năm tháng tiếp theo.

THEO DÕI TÁI PHÁT

Một trong những mục tiêu của chăm sóc sau khi ra viện là kiểm tra phòng ngừa ung thư tái phát. Ung thư tái phát vì một phần nhỏ tế bào ung thư đã bị bỏ sót và không thể phát hiện được bằng các kĩ thuật xét nghiệm chẩn đoán. Qua thời gian, những tế bào này có thể tăng lên về số lượng cho đến khi các thiết bị xét nghiệm có thể phát hiện được chúng và lúc đó có thể khối ung thư tái phát đã gây ra triệu chứng bất thường trong cơ thể.
Trong quá trình theo dõi sau điều trị, một bác sĩ trong nhóm điều trị cũ của bạn sẽ cho bạn biết tỷ lệ nguy cơ ung thư của bạn tái phát. Hiểu về nguy cơ ung thư tái phát và những phương pháp điều trị giúp bạn chuẩn bị tốt hơn trong trường hợp ung thư quay trở lại và giúp bạn có quyết định dễ dàng hơn trong việc điều trị.

Kiểm soát những tác dụng phụ muộn hoặc tác dụng phụ kèo dài.

Đa số bệnh nhân ung thư xuất hiện tác dụng phụ khi điều trị. Tuy nhiên, một điều khiến nhiều bệnh nhân ngạc nhiên là một số số tác dụng phụ có thể kéo dài sau khi điều trị. Thêm vào đó, có những tác dụng phụ lại xuất hiện rất muộn, sau vài tháng thậm chí cả năm sau khi điều trị mới xuất hiện.

Hãy trao đổi với bác sĩ về rủi ro xuất hiện những tác dụng phụ như vậy liên quan đến bệnh của bạn, liệu trình điều trị của bạn và sức khỏe tổng thể của bạn. Nếu bạn đang sử dụng một phương pháp điều trị được biết là gây nhiều tác dụng phụ muộn hoặc lâu dài, bạn cần có những kiểm tra thể chất, chụp chiếu hoặc kiểm tra máu để kiểm tra và kiểm soát chúng.

Đa số những tác dụng phụ sau điều trị là đau, mệt mỏi, khó thở. Bác sĩ, y tá, những nhà hoạt động xã hội có thể giúp bạn xây dựng một kế hoạch để kiểm soát bất kỳ tác dụng phụ nào sau điều trị.

Theo dõi sức khỏe thường xuyên

Bạn và bác sĩ của bạn cần làm việc với nhau để xây dựng một kế hoạch chăm sóc sau điều trị. Kế hoạch chăm sóc sau điều trị cần được lên rõ ràng, cả về chê độ ăn uống, chế độ vận động, chế độ sinh hoạt và cả chế độ dùng thuốc theo chỉ định của bác sĩ. Tuyệt đối không nên tìm mua những sản phẩm không rõ nguồn gốc, không được chứng minh, nghiên cứu khoa học đầy đủ.

Chúc bạn và gia đình luôn mạnh khỏe!

 

Sống khỏe sau hóa xạ trị

Thế nào là thoát khỏi ung thư?

Từ này có ý nghĩa rất khác nhau tùy thuộc từng người. Có 2 định nghĩa phổ biến nhất:

  • Không còn triệu chứng ung thư sau khi kết thúc điều trị
  • Quá trình sống với, vượt qua và thoát khỏi ung thư. Theo đó, thoát khỏi ung thư bắt đầu từ thời điểm chẩn đoán và bao gồm những người vẫn tiếp tục ó những điều trị lâu dài để giảm thiểu nguy cơ tái phát hoặc để kiếm soát bệnh mãn tính.

Ở một khía cạnh nào đó, thoát khỏi ung thư là một trong những yếu tố phức tạp nhất của điều trị ung thư vì nó rất khác nhau ở các bệnh nhân.

Những người sống sót có thể trải qua những xáo trộn về cảm xúc, bao gồm cả sự hào hứng, sự lo lắng, sự thoải mái, hay cả sự sợ hãi. Nhiều bệnh nhân ung thư nói rằng họ cảm thấy yêu cuộc đời hơn sau khi bị chẩn đoán ung thư. Một số khác trở nên rất hoảng loạn, lo lắng về sức khỏe của họ và cũng không biết được họ sẽ phải đối mặt với cuộc sống phía trước như thế nào? Một số khác cố gắng bỏ qua tất cả, xem như cuộc sống của mình vẫn tiếp diễn bình thường.

Những người thoát khỏi ung thư có thể bị stress (căng thẳng) khi phải khám định kỳ thường xuyên và điều trị sau khi xuất viện.

Mỗi bệnh nhân ung thư sau khi thoát án tử đều có những nỗi lo và những thách thức riêng, với mỗi thách thức, điều quan trọng đầu tiên là phải nhận thức được nỗi sợ hãi và chia sẻ nỗi sợ hãi đó với gia đình và bác sĩ. Bạn cần:

  • Hiểu về những thách thức mà bạn đang phải đối mặt
  • Nghĩ về những giải pháp
  • Hỏi ý kiến bác sĩ và tuân thủ điều trị của bác sĩ
  • Hãy để mình cảm thấy thoải mái với những lựa chọn của bạn

Rất nhiều bệnh nhân thoát khỏi ung thư cảm thấy an tâm hơn khi có một nhóm bác sĩ chuyên khoa hỗ trợ hoặc một cộng đồng ung thư trên mạng như cộng đồng “Cuộc chiến ung thư” do Chiến binh Trần Đồng (bệnh nhân thoát khỏi ung thư vòm họng). Điều này cho phép bạn trò chuyện với những người có cùng hoàn cảnh.

Vai trò của người chăm sóc

Người chăm sóc đóng vai trò rất quan trọng trong việc hỗ trợ người bệnh bị chẩn đoán ung thư, hỗ trợ thể chất, tinh thần, chăm sóc hàng ngày hay cho những nhu cầu căn bản. Tuy nhiên, khi điều trị đã kết thúc, vai trò của người chăm sóc thường thay đổi. Cuối cùng, sự cần thiết của người chăm sóc liên quan đến chẩn đoán ung thư sẽ giảm dần hoặc không cần thiết.

Thay đổi lối sống

Đối với rất nhiều người, việc thoát khỏi ung thư là động lực vô cùng lớn để học thay đổi lối sống của bình. Bệnh nhân ung thư tiền liệt tuyến sau khi đã hồi phục được khuyến khích tuân thủ một hướng dẫn chăm sóc sức khỏe chuẩn, ví dụ như: Không hút thuốc, ăn uống lành mạnh, kiểm soát stress, điều chỉnh hoạt động thể chất giúp phục hồi sức khỏe và năng lượng sống.

Bạn nên tham khảo ý kiến bác sĩ về những bài tập thể dục phù hợp với mình, phù hợp với nhu cầu của bạn, tình trạng thế chất hiện tại… Đa số bệnh nhân cảm thấy việc tập thể dụng với những người bạn sẽ khiến họ cảm thấy thoải mái và dễ theo đuổi lâu dài hơn.

Những thông tin trên đây chỉ mang tính tham khảo, bạn nên hỏi ý kiến bác sĩ trước khi quyết định sử dụng thuốc hay bất kỳ liệu pháp nào đó.

Đối tác

Loading..