Ung thư phổi

Tổng quan

TRONG TRANG NÀY: Bạn sẽ tìm thấy những thông tin cơ bản về bệnh ung thư phổi và những bộ phận của cơ thể có thể bị ảnh hưởng. Đây là bài viết đầu tiên tổng quan về căn bệnh ung thư phổi. Để xem thêm những bài viết tiếp theo, bạn sử dụng thanh menu trên trang web để tìm kiếm danh mục và bài viết cần thiết.

Ung thư phổi ảnh hưởng trên 200.000 người Mỹ mỗi năm, Mặc dù hút thuốc lá là nguyên nhân chính dẫn đến ung thư phổi, thì tất cả mọi người đều có thể có nguy cơ phát triển ung thư phổi. Trong trang này viết về căn bệnh ung thư phổi không tế bào nhỏ. Ung thư phổi có thể điều trị được nếu phát hiện sớm.

Bởi ung thư phổi có liên quan nhiều đến khói thuốc, bệnh nhân có thể lo lắng rằng không có ai giúp đỡ họ (kể cả bác sĩ và người thân) vì sự ghét bỏ do hút thuốc. Thực tế cho thấy, đa số những người hút thuốc không có ung thư phổi và không phải tất cả những người ung thư phổi đều hút thuốc. Ung thư phổi là căn bệnh có thể ảnh hưởng đến tất cả mọi người. Trên thực tế, đa số bệnh nhân ung thư phổi đã dừng hút thuốc nhiều năm trước hoặc chưa bao giờ hút thuốc.

Ung thư phổi là một trong những loại ung thư phổ biến nhất

Ung thư phổi là một trong những loại ung thư phổ biến nhất

Thông tin về Phổi:

Khi một người hít vào, phổi hấp thụ oxy từ không khí và đưa oxy vào máu và vận chuyển đến hết các cơ quan trong cơ thể. Sản phẩm tạo ra sau khi tiêu thụ O2 là CO2. Dòng máu sẽ mang CO2 quay trở lại phổi để đưa ra ngoài. Phổi chứa rất nhiều loại tế bào khác nhau. Đa số tế bào phổi là tế bào biểu mô. Phổi cũng chứa các tế bào thần kinh, tế bào sản xuất hocmon, tế bào máu, tế bào tạo cấu trúc phổi và những tế bào hỗ trợ.

Về ung thư phổi không tế bào nhỏ

Có 2 loại ung thư phổi chính: Ung thư phooie không tế bào nhỏ và ung thư phổi tế bào nhỏ. 2 loại này có cách điều trị rất khác nhau. Ung thư phổi không tế bào nhỏ bắt đầu khi tế bào phổi khỏe mạnh thay đổi và phát triển không kiểm soát, hình thành nên khối u, hạch, nốt. Một khối u phổi có thể xuất hiện bất cứ vị trí nào của phổi.

Một khối u có thể là u lành hoặc u ác. Những tế bào này có thể được dòng máu mang đi hoặc lang thang trong mạch bạch huyết, mạch bạch huyết bao quanh phổi. Bạch huyết chảy trong các mạch bạch huyết, chảy qua các hoạch bạch huyết, nhỏ hình hạt đậu giúp chống lại viêm nhiễm. Những hạch này nằm tại phổi, giữa ngực và nhiều chỗ khác trong cơ thể. Dòng chảy tự nhiên của bạch huyết là đổ về vị trí trung tâm ngực, đó là lý do tại sao ung thư phổi thường lan tới đó đầu tiên. Khi tế bào ung thư di chuyển đến hạch bạch huyết hoặc một bộ phận nào khác trong cơ thể thông qua dòng máu, khi đó gọi là ung thư di căn.

Các loại ung thư phổi không tế bào nhỏ

Ung thư phổi không tế bào nhỏ bắt nguồn từ những tế bào biểu mô. Ung thư phổi không tế bào nhỏ có thể được phân loại dựa trên loại ung thư biểu mô gốc của nó (nơi mà nó bắt đầu hình thành):

  • Ung thư tế bào lót: Nơi các tế bào sản sinh dịch nhày.
  • Ung thư tế bào vảy: Ung thư tế bào lớn là loại ung thư tế bào nhỏ có tế bào không thuộc 2 nhóm mô tả ở trên.

Việc phân biệt các loại ung thư là rất quan trọng cho việc đưa ra phác đồ điều trị

Thống kê

Trên trang này: Bạn sẽ có thêm thông tin về con số bao nhiêu người bị chẩn đoán ung thư phổi không tế bào nhỏ mỗi năm.

Ung thư phổi không tế bào nhỏ là loại ung thư phổ biến nhất trong số các loại ung thư phổi, chiếm đến 80-85% số ca được chẩn đoán. Năm ngoái, có tới 222.500  (116.990 nam và 105,510 nữ) người bị chẩn đoán ung thư phổi ở Mỹ. Ung thư phổi là căn bệnh ung thư phổ biến thứ 2 dẫn đến cái chất của cả nam và nữ.

Ung thư phổi gây ra 14% số ca ung thư chẩn đoán mới và 1 trong 4 căn bệnh ung thư nguy hiểm nhất. Tỷ lệ sống sót sau 5 năm cho bạn biết bao nhiêu % số bệnh nhân ung thư phổi sống ít nhất 5 năm sau khi bị chẩn đoán ung thư. Tỷ lệ trung bình sống ít nhất 5 năm ở ung thư phổi là 18% (15% ở nam và 21% ở nữ).

Tuy nhiên tỉ lệ sống này còn phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố, bao gồm loại ung thư, giai đoạn ung thư. Đối với bệnh nhân ung thư phổi giai đoạn IA và IB, tỉ lệ sống 5 năm là 49%. Giai đoạn IIA tỉ lệ này là 30%, 31% cho giai đoạn IIB. Giai đoạn IIIA, tỉ lệ này là 14%, IIIB là 5%. Khi ung thư phổi đã di căn, tỉ lệ này rất thấp, chỉ còn dưới 1%.

Mỗi năm, 10 ngàn người được chữa khỏi ung thư phổi không tế bào nhỏ (con số ở Mỹ). Và cũng có rất nhiều bệnh nhân ung thư giai đoạn tiến triển đã sống rất lâu sau khi bị chẩn đoán. Đôi khi, những bệnh nhân được chẩn đoán ung thư phổi có thể chưa khỏi thì lại có thời gian sống ngắn hơn những bệnh nhân được chẩn đoán không thể chữa khỏi. Điều chúng ta cần nhớ rằng, ung thư phổi có thể chữa được ở mọi giai đoạn, những phương pháp điều trị giúp kéo dài thời gian sống khỏe mạnh của người bệnh.

Những thông tin, con số nêu trên chỉ mang tính tham khảo. Ung thư phổi có thể chữa được nếu được phát hiện kịp thời và điều trị hợp lý.

Giải phẫu

Hình ảnh giải phẫu phổi

Những yếu tố rủi ro

Như chúng ta đã biết, mỗi tế bào sinh ra đều tuân theo quy luật sinh lão bệnh tử. Quá trình này luôn được kiểm soát chặt chẽ bởi một cơ chế rất phức tạp nhằm đảm bảo không có bất cứ một tế bào nào chống lại quy luật tự nhiên trên. Tuy nhiên, vì một lý do nào đó kiến hệ thống kiểm soát mắc lỗi dẫn đến một số tế bào phát triển và sinh sản quá nhanh, không kiểm soát và đặc biệt là không chết đi theo quy luật. Kết quả là khối u hình thành như một căn cứ địa kiên cố bao bọc bên trong là những tế bào ung thư hung hãn chực chờ cơ hội để xâm chiếm những bộ phận khác trên cơ thể. Đó là cách ung thư hình thành, phát triển và ung thư vú cũng là một trong số đó!

Vậy đâu là nguyên nhân chính khiến hệ thống bảo vệ cơ thể bị mắc lỗi? Ai đã khuấy động sự cân bằng của tự nhiên? Trong bài viết này, chúng ta sẽ cùng nhau tìm hiểu về những nguyên nhân cơ bản dẫn đến sự hình thành và phát triển của ung phổi tế bào nhỏ.

Khói thuốc lá

Khói thuốc lá phá hủy tế bào phổi khiến những tế bào phổi phát triển một cách bất thường. Người tiếp xúc với khói thuốc lá càng lâu, càng nhiều thì nguy cơ mắc ung thư phổi càng cao kể cả những trường hợp không trực tiếp hút thuốc mà do khói thuốc từ người bên cạnh.

Bụi amiăng

Amiăng (hay còn gọi là asbestos) là tên gọi chung của loại sợi khoáng silicat, bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp cổ có nghĩa là “không thể phá hủy” và đã được sử dụng từ hơn 2.000 năm trước vì những ưu điểm như bền, dai, mềm dẻo và cách nhiệt tốt. Khi chúng ta hít phải nhiều bụi amiang, nguy cơ mắc ung thư phổi sẽ rất cao. Rất nhiều nghiên cứu cho thấy, việc tiếp xúc thường xuyên với cả khói thuốc và amiang là rất nguy hiểm. Những người thường xuyên làm việc tiếp xúc với amiang như công nhân, thợ mỏ, kĩ thuật lắp đặt… đều có nguy cơ cao mắc ung thư phổi không tế bào nhỏ. Do đó những đối tượng nguy cơ cao trên cần sử dụng mặt nạ bảo hộ an toàn khi làm việc.

Radon

Đây là một khí không màu, không mùi được sinh ra từ đất và đá. Việc tiếp xúc nhiều với radon liên quan đến nguy cơ tăng tỉ lệ xuất hiện một số loại ung thư bao gồm cả ung thư phổi.

Những tạp chất khác: Những hợp chất nguy hiểm khác như gas hoặc hóa chất tại nơi làm việc hoặc trong một môi trường làm tăng nguy cơ phát triển ung thư phổi. Ở một số vùng trên thế giới, người dân nấu ăn bằng than đá hoặc gỗ cũng có nguy cơ làm tăng tỉ lệ ung thư phổi. Những nguyên nhân khác như tia phóng xạ, asen, niken, crom cũng có thể làm tăng nguy cơ ung thư phổi.

Yếu tố di truyền: Một số người có biểu hiện những gen liên quan mật thiết đến ung thư phổi. Những người có bố mẹ, anh chị em bị ung thư phổi cũng có nguy cơ cao mắc ung thư phổi.

Ngăn chặn ung thư phổi

Những yếu tố nguy cơ khác nhau gây ra những loại ung thư khác nhau. Các nhà khoa học vẫn đang tìm kiếm những yếu tố nào gây nên loại ung thư phổi không tế bào nhỏ. Mặc dù không có một cách chắc chắn nào có thể ngăn chặn hoàn toàn căn bệnh này, nhưng bạn cũng có thể giảm nguy cơ ung thư phổi. Hãy nói với bác sĩ về những yếu tố nguy cơ mà bạn trải qua để có những hướng xử lý triệt để nhất.

Cách quan trọng nhất để ngăn chặn ung thư phổi là tránh xa khói thuốc. Những người chưa bao giờ hút thuốc có nguy cơ ung thư phổi thấp nhất. Những người đang hút thuốc có thể giảm nguy cơ phát triển ung thư phổi bằng cách ngừng hút thuốc tuy nhiên nguy cơ ung thư phổi vẫn cao hơn người bình thường.

Ngăn ngừa ung thư phổi với Vitamin hoặc các phương pháp điều trị khác là rất khó. Ví dụ, beta-carotene, một sản phẩm liên quan đến Vitamin A, đã được thử nghiệm cho công dụng ngăn ngừa ung thư phổi. Và kết quả là nó không làm giảm nguy cơ này.

Tầm soát ung thư

Tầm soát ung thư là cách để tìm kiếm dấu hiệu ung thư trước khi những triệu chứng đầu tiên xuất hiện. Các nhà khoa học đã và đang nghiên cứu những phương pháp kiểm tra dấu hiệu của những loại ung thư cụ thể. Mục tiêu của việc tầm soát nhằm làm giảm số lượng người mắc ung thư cũng như giảm tỉ lệ chết do ung thư.
Những thông tin liên quan đến tầm soát ung thư phổi.

Dựa trên những kết quả từ thử nghiệm tầm soát ung thư phổi quốc gia, một vài nhóm bao gồm cả ASCO đã phát triển một số phương pháp tầm soát ung thư phổi. Thêm vào đó, tầm soát ung thư phổi đã được phê duyệt bởi hiệp hội y khoa. Có 2 biện pháp tầm soát phổ biến nhất hiện nay là: Chụp CT xoắn ốc liều lượng thấp hoặc quét spiral computed tomography. Một lần quét CT sẽ đưa ra hình ảnh 3 chiều của cơ thể. Sau đó đưa những hình ảnh này vào máy tính phân tích để tìm ra những dấu hiệu bất thường hoặc khối u.

Quét CT không áp dụng cho tất cả những người hay hút thuốc, những gợi ý mới đây nhất sẽ được thảo luận sâu hơn ở mục phía dưới. Việc tầm soát nên được tiến hành ở những cơ sở uy tín.

Sau đây là những khuyến nghị của ASCO về phương pháp tầm soát ung thư phổi cho những người thường xuyên hút thuốc lá:

Tầm soát hàng năm với phương pháp quét CT liều lượng thấp thay vì sử dụng phương pháp chụp X quang phổi. Lưu ý những đối tượng từ 55 đến 74 tuổi thường xuyên hút thuốc hoặc với những người có tiền sử hút thuốc trên 15 năm (Có thể hiện tại không còn hút thuốc nữa).

The United States Preventive Services Task Force đã khuyến nghị những người từ 55 đến 80 tuổi đã hút trên 20 điếu/ngày hoặc hơn và những người đã bỏ thuốc chưa đến 15 năm nên đi tầm soát ung thư phổi hàng năm với CT liều thấp và có thể kết thúc tầm soát khi đã bỏ thuốc được trên 15 năm hoặc có một vấn đề sức khỏe nguy hiểm nào đó đe dọa đến tính mạng.

Bao lâu thì cần tầm soát lại?

Thời gian tầm soát sẽ phụ thuộc vào việc phát hiện ra các nốt trên phổi trong lần tầm soát đầu tiên, cụ thể theo bảng dưới đây:

Kết quả chụp LDCT Thời gian tầm soát lại
Không phát hiện nốt nào Mỗi năm tầm soát một lần
                                      Kích thước nốt

< 5mm

Không phải nốt đặc         5-10mm

>10 mm

 

Tầm soát lại LDCT sau 12 tháng

Tầm soát lại LDCT sau 6 tháng

Tầm soát lại LDCT sau 3-6 tháng

                                     Kích thước nốt

≤ 4mm

Nốt đặc hoặc                 4.1-6 mm

một phần nốt đặc           6.1-8 mm

> 8 mm

 

Mỗi năm tầm soát một lần

Tầm soát lại LDCT sau 6 tháng

Tầm soát lại LDCT sau 3 tháng

 Tầm soát xét làm PET/CT

Ung thư phổi là một bệnh gây tử vong cao, phát hiện bệnh giai đoạn sớm khi chưa có triệu chứng có thể chữa lành. Để tầm soát phải chụp CT scan ngực liều thấp trên những đối tượng có nguy cơ cao, đặc biệt trên nhóm hút thuốc lá. Tốt nhất nên ngưng hút thuốc lá ngay vì nó giúp ta giảm nguy cơ này, bạn có thể tìm đến bác sĩ chuyên cai thuốc lá để hỗ trợ bạn bỏ thuốc.

Dấu hiệu triệu chứng

Bệnh nhân ung thư phổi không tế bào nhỏ có thể xuất hiện những triệu chứng được nêu dưới đây. Đôi lúc, bệnh nhân ung thư phổi không tế bào nhỏ không hề xuất hiện bất kì triệu chứng nào hoặc cũng có thể những triệu chứng được nêu dưới đây là do những tác dụng phụ của thuốc chứ không phải là do ung thư:

  • Mệt mỏi
  • Ho
  • Nhịp thở ngắn
  • Đau ngực khi một khối u di căn đến niêm mạc phổi hoặc những phần khác gần phổi trong cơ thể.
  • Chán ăn
  • Ho ra đờm hoặc chất nhày
  • Ho ra máu
  • Sụt cân không rõ lý do
  • Khàn giọng
  • Nếu bạn đang lo lắng về bất kì triệu chứng nào ở trên, hãy báo ngay với bác sĩ. Bác sĩ có thể sẽ hỏi về thời gian cũng như mức độ thường xuyên của triệu chứng. Đây là cach bác sĩ tìm ra nguyên nhân vấn đề hay còn gọi là chẩn đoán.

Đối với những bệnh nhân ung thư phổi không tế bào nhỏ  không có xuất hiện bất kì triệu chứng, bệnh nhân thường được phát hiện tình cờ khi chụp x quang phổi hoặc khi thăm khám những bệnh lý tim mạch.

Đa số bệnh nhân ung thư phổi không tế bào nhỏ phát hiện khi ung thư đã phát triển nhanh. Một khối ung thư phổi có thể tạo ra nhiều chất dịch tích lũy trong phổi hoặc tích lũy ở khu vực xung quanh phổi và gây tổn thương phổi. Tình trạng này ngăn cản quá trình hấp thụ oxy vào máu cũng như đào thải khí cacbonic ra bên ngoài do khối u hoặc dịch lỏng ngăn chặn sự lưu thông dòng khí thở.

Ung thư phổi không tế bào nhỏ có thể di căn đến bất kì vị trí nào trên cơ thể. Chúng thường xuyên di căn đến các hạch lympho, những vị trí khác trong phổi, xương, não, gan, những tổ chức xung quanh thận… Di căn ung thư tế bào phổi có thể dẫn đến:

  • Khó thở
  • Đau xương
  • Đau bụng hoặc đau lưng
  • Đau đầu
  • Mệt mỏi
  • Gặp khó khăn khi nói
  • Một vấn đề ít gặp hơn do khối u phổi tiết ra những hocmon dẫn đến tăng calxi huyết…

Một số triệu chứng như mệt mỏi, chán ăn có thể không phải nguyên nhân do di căn. Ung thư ở bất kì vị trí nào trong cơ thể đều làm giảm chất lượng cuộc sống của người bệnh. Chán ăn có thể dẫn đến sụt cân, mệt mỏi có thể hiệp đồng làm giảm khả năng hô hấp của bệnh nhân.

Nếu ung thư được chẩn đoán, việc loại bỏ những triệu chứng bất lợi trên là một phần quan trọng trong chăm sóc và điều trị ung thư.

Chuẩn đoán

Bác sĩ có thể sẽ sử dụng một số kiểm tra để tìm kiếm, chẩn đoán ung thư. Những xét nghiệm này cũng có thể giúp bác sĩ xác định liệu ung thư đã di căn đến những vị trí khác trên cơ thể hay chưa. Ví dụ: xét nhiệm hình ảnh thể hiện cụ thể bức tranh 3 chiều bên trong cơ thể. Bác sĩ cũng căn cứ vào những xét nghiệm để xác định liệu pháp điều trị phù hợp cho bệnh nhân.

Hầu hết các loại ung thư, sinh thiết là một cách chắc chắn nhất liệu tổn thương bất thường đó có phải là ung thư hay không. Sinh thiết là cách bác sĩ lấy một phần mô nhỏ ở vị trí nghi ngờ để kiểm tra trong phòng thí nghiệm. Nếu sinh thiết không khả thi, bác sĩ có thể gợi ý những xét nghiệm khác giúp cho việc chẩn đoán trở nên dễ dàng hơn.

Danh sách dưới đây liệt kê những phương pháp chẩn đoán ung thư có thể lựa chọn, tất nhiên không phải tất cả các xét nghiệm liệt kê dưới đây đều được sử dụng để chẩn đoán cho tất cả mọi bệnh nhân. Bác sĩ sẽ căn cứ vào:

  • Loại ung thư nghi ngờ
  • Dấu hiệu và triệu chứng
  • Tuổi tác và tình trạng sức khỏe
  • Kết quả của những xét nghiệm trước đó.

Xét nghiệm hình ảnh

Quét hình ảnh là phương pháp rất quan trọng trong việc chăm sóc bệnh nhân ung thư phổi không tế bào nhỏ. Tuy nhiên, không có xét nghiệm nào là hoàn hảo cả. Chỉ có sinh thiết là có thể xác định chắc chắn liệu bệnh nhân có bị ung thư hay không. Những kết quả X quang ngực và quét hình ảnh ngực nên được kết hợp với những thông tin tiền sử bệnh, một xét nghiệm thể chất, kiểm tra máu và kết quả sinh thiết để có một bức tranh toàn cảnh về vị trí ung thư nguyên phát và những vị trí ung thư đã di căn.

Một số phương pháp phổ biến như:

Quét CT:

Đây là một phương pháp chụp hình lồng ngực có dùng tia x, chụp cắt lớp đánh giá chẩn đoán u phổi tốt hơn chụp x quang, đặc biệt đánh giá những khối u nằm cạnh tim hoặc mạch máu lớn – chúng tôi hay gọi là những khối u vùng phế trường trung tâm. Ngoài ra chụp cắt lớp vi tính lồng ngực còn có khả năng chẩn đoán được di căn hạch trung thất, di căn gan, tuyến thượng thận, xương sườn trong trường hợp ung thư phổi giai đoạn muộn. Bên cạnh đó, chụp cắt lớp vi tính cũng có thể phát hiện những khối di căn xa như ở não. Chụp cắt lớp vi tính còn có khả năng dẫn đường cho sinh thiết u xuyên thành ngực giúp chẩn đoán xác định. Đây là thủ thuật thường được áp dụng đối với những u nằm phế trường ngoại vi, hoặc nằm phế trường trung tâm nhưng khó tiếp cận bằng soi phế quản.

Chụp cắt lớp phát xạ (PET): Chụp PET thường kết hợp với chụp CT, gọi là chụp PET-CT. Tuy nhiên, bạn có thể nghe bác sĩ chỉ đề cập đến chụp PET. PET là cách dễ dàng để có những bức ảnh về cơ quan hoặc mô bên trong cơ thể. Một lượng nhỏ chất đường phóng xạ được tiêm vào cơ thể và nồng độ sẽ tập trung nhiều vào những tế bào tiêu thụ mạnh (tb ung thư).

Chụp hình cộng hưởng từ: Chụp cộng hưởng từ cho phép bác sĩ xem vị trí của khối u đồng thời có thể đo kích thước khối u. Chụp cộng hưởng từ dùng từ trường, không phải tia X quang, để tạo ra những hình ảnh chi tiết của toàn bộ cơ thể. Một chất nhuôm đặc biệt có tên là dung dịch tương phản được sử dụng trước khi tiến hành chụp. Chất nhuộm này có thể được tiêm tĩnh mạch hoặc uống.

Kiểm tra xương: Kiểm tra xương sử dụng chất đánh dấu phóng xạ. Chất đánh dấu tiêm tĩnh mạch. Vùng xương khỏe mạnh sẽ có màu xám trên hình ảnh, phần xương tổn thương sẽ có màu tối.

Dưới đây là những cách giúp bác sĩ có thể cắt một phần mô phục vụ quá trình chẩn đoán:

Sinh thiết: Là kỹ thuật lấy một phần mô, tế bào của khối u mang đi xét nghiệm kiểm tra dưới kính hiển vi. Đây là phương pháp chuẩn xác nhất để biết được khối u lành tính hay ác tính.

Ngoài ra có một số phương pháp khác:

  • Kiểm tra phân tử của khối u
  • Nội soi phế quản
  • Chọc hút bằng kim / lõi sinh thiết
  • Chọc dò ngực
  • Nội soi lồng ngực
  • Phẫu thuật nội soi lồng ngực sinh thiết khối u phổi ngoại biên (Mediastinoscopy)
  • Phẫu thuật mở ngực.
  • Tìm và xác định vị trí khối u nguyên phát:

Ung thư phổi không tế bào nhỏ xuất phát từ lá phổi. Một số loại ung thư khác xuất phát điểm từ một vị trí khác trong cơ thể và di căn đến phổi do đó việc bác sĩ xác định vị trí khối u nguyên phát là vô cùng quan trọng.

Để xác định vị trí khối u nguyên phát, bác sĩ sẽ căn cứ vào những dấu hiệu, triệu chứng, tiền sử bệnh, những chẩn đoán lâm sàng, hình dạng khối u trên ảnh chụp X quang và những yếu tố nguy cơ của bệnh nhân. Bác sĩ có thể sử dụng sinh thiết để xác định vị trí khối u nguyên phát. Bác sĩ có thể gợi ý những xét nghiệm khác để xác định chính xác loại ung thư. Nếu sau những kết quả xét nghiệm trên mà bác sĩ vẫn chưa thể xác định vị trí ung thư khởi phát, bác sĩ có thể kết luận khối u không rõ vị trí khởi phát. Việc điều trị cho trường hợp này ban đầu cũng không khác nhiều so với trường hợp xác định rõ u nguyên phát.

Đối mặt với những chẩn đoán ung thư phổi không tế bào nhỏ

Đối với bệnh nhân, bị chẩn đoán ung thư phổi không tế bào nhỏ là một cú sốc không nhỏ. Một số bệnh nhân còn hoảng loạn, mất kiểm soát và trầm cảm. Bệnh nhân và gia đình không nên lo lắng nhiều trong việc bày tỏ cảm xúc với bac sĩ. Các cán bộ y tế luôn ở bên cạnh đề giúp đỡ bạn.

Bên cạnh việc kê cho bệnh nhân sử dụng những thuốc chống sốc, trầm cảm, liệu pháp tâm lý cũng được đặt lên hàng đầu. Bác sĩ có thể sẽ khuyên bệnh nhân đến gặp một bác sĩ tâm lý… để nhận được những tư vấn thiết thực nhất. Thêm vào đó, bệnh nhân và người nhà của họ cũng nên được biết về những tổ chức hay cộng đồng trong xã hội có chức năng hỗ trợ những bệnh nhân ung thư phổi. Việc chia sẻ tình trạng, tâm lý hay kể cả những nỗi đau của mình với cán bộ y tế hay bác sĩ tâm lý giúp bệnh nhân cảm thấy thoải mái hơn.

Ung thư phổi không tế bào nhỏ là một bệnh nghiêm trọng. Tuy nhiên, bệnh nhân vẫn còn hi vọng rằng bác sĩ có thể cho họ những phương pháp điều trị hiệu quả nhất và cơ hội sống sót cao nếu như được phát hiện sớm và tuân thủ lộ trình điều trị.

Dừng hút thuốc lá

Dù sau khi ung thư phổi bị chẩn đoán, việc ngừng hút thuốc lá là cần thiết. Nhũng người dừng hút thuốc có thời gian sống dài hơn, cảm thấy sức khỏe tốt hơn, giảm nguy cơ xuất hiện khối u ung thư phổi tiếp theo kể cả những vấn đề sức khỏe khác.

Dừng hút thuốc chưa bao giờ là dễ và thậm chí còn khó hơn khi phải đối mặt với chẩn đoán ung thư phổi không tế bào nhỏ. Những người hút thuốc nên tìm kiếm sự giúp đỡ của gia đình, bạn bè, xây dựng kế hoạch để bỏ thuốc.

Bỏ hút thuốc lá để giảm nguy cơ ung thư phổi

Bỏ hút thuốc lá để giảm nguy cơ ung thư phổi

Giai đoạn bệnh

TRÊN TRANG NÀY:  Bạn sẽ biết được cách bác sĩ phân loại quá trình phát triển của khối u. Để xem một trang khác, bạn vui lòng sử dụng thanh Menu.

Giai đoạn ung thư là một cách để mô tả vị trí khối u hoặc những vị trí mà khối u đã di căn, xâm lấn kể cả những phần mà khối u đã ảnh hưởng đến. Bác sĩ sử dụng những xét nghiệm chẩn đoán để xác định giai đoạn của khối u, do đó, việc phân loại giai đoạn khối u chỉ được tiến hành khi những xét nghiệm cần thiết đã hoàn thành và cho kết quả. Biết về giai đoạn bệnh giúp bác sĩ có thể quyết định liệu pháp điều trị nào là hiệu quả nhất với bệnh nhân và cũng có thể giúp chẩn đoán tiên lượng của bệnh, cơ hội sống của người bệnh.

Nhìn chung, giai đoạn bệnh càng sớm thì tỉ lệ thành công trong điều trị sẽ cao hơn. Tuy nhiên, không bác sĩ nào có thể đoán được bệnh nhân sẽ sống bao lâu nữa với căn bệnh ung thư phổi chỉ dựa trên giai đoạn bệnh. Bởi ung thư phổi ở mỗi bệnh nhân là khác nhau và các liệu pháp điều trị có hiệu quả khác nhau với từng người bệnh.

Phân loại giai đoạn bệnh:

Giai đoạn của bệnh ung thư phổi không tế bào nhỏ được xác định thông qua một số yếu tố bao gồm:

  • Kích thước và vị trí khối u
  • Ung thư đã xâm lấn hạch hay chưa hoặc xâm lấn vị trí nào đó trong cơ thể.

Giai đoạn của ung thư phổi không tế bào nhỏ được mô tả bằng một con số từ 0 đến 4. Một cách để xác định giai đoạn của ung thư phổi không tế bào nhỏ là liệu ung thư có thể được loại bỏ hoàn toàn bằng việc phẫu thuật hay không? Để loại bỏ ungt hư, bác sĩ phẫu thuật phải cắt bỏ khối u kèm theo phần mô lành xung quanh khối u nhằm đảm bảo không để sót tế bào ung thư.

Giai đoạn 0: Giai đoạn này được gọi là giai đoạn bệnh tại chỗ, nghĩa là ung thư vẫn đang ở một ví trí cố định, chưa phát triển ra những mô xung quanh hoặc xâm lấn ra bên ngoài phổi.

Giai đoạn I:  Khi này một khối u vẫn chưa lan đến các hạch bạch huyết, do đó bác sĩ vẫn có thể phẫu thuật để loại bỏ toàn bộ khối u ra ngoài. Giai đoạn I được chia làm 2 nhóm nhỏ:

IA: Khối u đường kính nhỏ hơn 3cm

IB: Khối u lớn hơn 3cm nhưng nhỏ hơn 5cm

Giai đoạn II: Giai đoạn 2 được chia làm 2 nhóm nhỏ hơn:

IIA: Khối u lớn hơn 5cm và nhỏ hơn 7cm vẫn chưa lan đến những hạch bạch huyết gần đó. Hoặc khối u kích thước nhỏ hơn 5 nhưng đã lây đến các hạch bạch huyết gần đó.

IIB: Khối u lớn hơn 5 cm và nhỏ hơn 7cm và đã xâm lấn đến các hạch bạch huyết. Hoặc khối u kích thước lớn hơn 7 nhưng chưa xâm lấn đến các hạch bạch huyết.

Giai đoạn III: Giai đoạn 3 được phân loại thành IIIA và IIIB. Nhiều trường hợp giai đoạn IIIA và hầu hết trường hợp giai đoạn IIIB, khối u rất khó điều trị, thậm chí một số trường hợp không thể điều trị, không thể cắt bỏ. Ví dụ, ung thư phổi có thể đã xâm lấn đến những hạch bạch huyết ở giữa ngực, đây là những hạch nằm ngoài phổi. Những trường hợp này việc cắt bỏ khối u là rất khó khăn do phải phẫu thuật cắt bỏ từng ít, từng ít một.

Giai đoạn IV: Giai đoạn 4 nghĩa là tế bào ung thư đã xâm lấn hơn 1 vị trí ở lá phổi bên cạnh, có dịch màng phổi hoặc dịch màng tim, hoặc ung thư đã lan đến khu vực xa ngoài phổi theo đường máu. Một tế bào ung thư đi vào máu có thể hành trình tới bất cứ đâu trong cơ thể. Tuy nhiên tế bào ung thư phổi thường di căn đến não, xương, gan, tuyến thượng thận. Giai đoạn 4 được chia làm 2 loại:

IVA ung thư xâm lấn nhưng vẫn nằm trong lồng ngực

IVB ung thư đã xâm lấn ra vị trí nào đó ngoài ngực (não, xương, gan…)

Thông thường, việc phẫu thuật ung thư phổi giai đoạn III và IV là không thành công

Ung thư phổi không tế bào nhỏ tái phát:

Khi khối u ung thư quay trở lại sau khi điều trị được gọi là ung thư tái phát. Nếu ung thư tái phát trở lại, bác sĩ sẽ tiếp tục làm các xét nghiệm, kiểm tra hình ảnh để xác định mức độ tái phát, những xét nghiệm này khá tương tự với những xét nghiệm ban đầu khi mới bị chẩn đoán ung thư

 

Lựa chọn điều trị

TRÊN TRANG NÀY: Bạn sẽ được biết những cách khác nhau bác sĩ sử dụng để điều trị ung thư phổi không tế bào nhỏ. Để xem thêm những bài viết khác, bạn vui lòng sử dụng thanh công cụ Menu.

Phần này đưa ra những phương pháp tổng thể trong việc chăm sóc và điều trị ung thư vú. Trong quá trình đưa ra kế hoạch điều trị, bệnh nhân sẽ được khuyến khích tiến hành các thử nghiệm lâm sàng đánh giá hiệu quả cũng như tác dụng phụ trước khi tiến hành nhằm tìm ra phương pháp nào là tốt nhất cho người bệnh.

TỔNG QUAN ĐIỀU TRỊ

Trong chăm sóc bệnh nhân ung thư, bác sĩ sẽ được chia làm các nhóm khác nhau phụ trách những nhóm điều trị chuyên biệt, ví dụ như bác sĩ phẫu thuật, bác sĩ chiếu xạ, bác sĩ truyền hóa. Các nhóm bác sĩ sẽ ngồi với nhau để bàn bạc đưa ra phác đồ điều trị hợp lý nhất. Nhóm điều trị cũng bao gồm một số chuyên gia y tế đặc thù khác: Phụ tá, y tá, dược sĩ, bác sĩ dinh dưỡng…

Phác đồ điều trị phụ thuộc rất nhiều vào tình trạng của bệnh, một số khối u nhỏ nhưng phát triển rất nhanh, trong khi đó một số khác kích thước nhỏ nhưng lại có tốc độ phát triển chậm. Do đó, lựa chọn điều trị phụ thuộc vào từng cá thể. Dưới đây là một số yếu tố quyết định đến lựa chọn điều trị:

  • Giai đoạn của khối u
  • Phân nhóm ung thư.
  • Gen đánh dấu
  • Tuổi, sức khỏe và mong muốn

Dù mỗi bệnh nhân sẽ có những phác đồ cụ thể khác nhau, tuy nhiên, đều tuân theo các bướu điều trị ung thư vú cơ bản.

Phẫu Thuật

Mục tiêu của phẫu thuật là cắt bỏ hoàn toàn khối u phổi và những hạch (nếu có) trong lồng ngực. Khối u được lấy ra kèm với một phần mô lành xung quanh. Sau đó, phần khối u này được mang đi kiểm nghiệm lại phần mô lành bị cắt bỏ, nếu kết quả là âm tính, nghĩa là phần mô lành bị cắt bỏ không có tế bào ung thư. Điều này được hiểu là khối u, tế bào ung thư đã bị loại bỏ hoàn toàn.

Những phương pháp phẫu thuật dưới đây có thể được sử dụng cho ung thư phổi không tế bào nhỏ:

  • Cắt bỏ thùy: Phổi có 5 thùy, 3 bên phải và 2 bên trái. Việc phẫu thuật cắt đi toàn bộ 1 thùy được gọi là “cắt bỏ thùy”. Đây được xem là phương pháp phẫu thuật hiệu quả nhất, dù khối u chỉ mới có kích thước nhỏ.
  • Cắt lọc một phần: Nếu bác sĩ không thể cắt bỏ toàn bộ thùy của khối u, bác sĩ có thể cắt khối u và phần mô lành xung quanh.
  • Cắt phân thùy phổi: Đây là một cách khác để cắt bỏ ung thư khi mà việc cắt bỏ toàn bộ thùy phổi không khả thi.
  • Cắt bỏ phổi: Nếu khối u đã tiến đến gần trung tâm phổi, bác sĩ có thể sẽ cắt toàn bộ phổi.

Liệu pháp bổ trợ:

Đây là liệu pháp sử dụng sau khi phẫu thuật để giảm thiểu rủi ro ung thư phổi tái phát. Liệu pháp bổ trợ có thể bao gồm xạ trị, hóa chất, điều trị đích, điều trị miễn dịch. Mỗi phương pháp sẽ được mô tả dưới đây. Song song với việc sử dụng thông tin “giai đoạn bệnh”những công cụ khác giúp xác định tiên lượng cũng như đưa ra quyết định liệu có nên sử dụng liệu pháp bổ trợ.

Xạ trị

Sử dụng chùm tia X năng lượng cao hoặc các hạt khác để phá hủy tế bào ung thư. Phương pháp xạ trị chính là xạ trị ngoài, phương pháp chiếu xạ từ bên ngoài. Phác đồ xạ trị thường được tiến hành theo lịch trong một khoảng thời gian nhất định. Giống như phẫu thuật, xạ trị xạ trị không thể dùng để điều trị ung thư đã xâm lấn rộng. Xạ trị chỉ tiêu diệt tế bào ung thư trên đường đi của nó, và đồng thời tia xạ cũng làm tổn thương nhiều tế bào lành trên đường đi của nó, vì vậy mà không thể xạ trị diện rộng. Nhiều trường hợp quét CT được sử dụng để xác định vị trí chính xác khối u nhằm giảm thiểu rủi ro gây tổn thương tế bào lành.

Tác dụng phụ của xạ trị

Bệnh nhân ung thư phổi tiến hành xạ trị thường bị mệt mỏi, chán ăn. Nếu xạ trị được tiến hành khu vực gần cổ hoặc giữa ngực, bệnh nhân có thể bị đau họng, khó nuốt. Bệnh nhân cũng có thể bị bỏng da vùng chiếu xạ, đa số tác dụng phụ kết thúc khi quá trình xạ trị kết thúc.

Nếu xạ trị gây khó chịu hoặc bỏng vùng phổi, bệnh nhân có thể bị ho, sốt, khó thở và thậm chí có thể kéo dài vài năm sau xạ trị.

Nếu bệnh ở giai đoạn nhẹ, không cần thiết.

Hóa trị

Hóa trị là việc sử dụng thuốc tiêu diệt tế bào ung thư, bằng cách ngăn chặn khả năng phát triển và phân chia của tế bào ung thư. Phương pháp này đã được chứng minh khả năng kéo dài tuổi thọ cũng như nâng cao chất lượng cuộc sống của người bệnh ung thư phổi không tế bào nhỏ ở mọi giai đoạn. Hóa trị được thực hiện bởi bác sĩ y khoa.

Các thuốc hóa trị được đưa vào máu để đến tế bào ung thư trong toàn bộ cơ thể. Cách phổ biến nhất khi truyền hóa chất là đưa thuốc theo đường tĩnh mạch hoặc một phương pháp khác là dạng viên uống. Tuy nhiên đa số ung thư phổi sử dụng phương pháp truyền tĩnh mạch.

Một liệu trình hóa trị thường tiến hành thành các đợt trong một khoảng thời gian. Mỗi loại ung thư lại có một loại thuốc hóa trị khác nhau.

Một số thuốc hay được dùng là:

  • Carboplatin (Paraplatin) hoặc cisplatin (Platinol)
  • Docetaxel (Docefrez, Taxotere)
  • Gemcitabine (Gemzar)
  • Nab-paclitaxel (Abraxane)
  • Paclitaxel (Taxol)
  • Pemetrexed (Alimta)
  • Vinorelbine (Navelbine)

Tác dụng phụ của hóa chất phụ thuộc vào từng cá thể và liều lượng sử dụng, nhưng có thể xuất hiện mệt mỏi, nguy cơ nhiễm trùng, nôn, buồn nôn, rụng tóc, chán ăn, tiêu chảy.

Hóa trị có thể làm tổn thương tế bào lành, bao gồm tế bào máu, tế bào da và tế bào thần kinh. Do đó bệnh nhân sau hóa trị có thể thiếu máu, thiếu các tế bào miễn dịch, bạch cầu dẫn đến cơ thể dễ vị nhiễm trùng, rụng tóc, đau miệng, tê bì châm chích chân tay. Do đó, bác sĩ thường kê cho bệnh nhân những thuốc làm giảm tác dụng phụ. Tiêm hocmon cũng là một phương pháp phòng tránh tế bào bạch cầu và hồng cầu xuống quá thấp.

Liệu pháp điều trị đích

Đây là liệu pháp hướng đến Gen hoặc Protein của tế bào ung thư, những thành phần nuôi dưỡng sự phát triển của ung thư. Phương pháp điều trị này ngăn chặn sự phát triển và xâm lấn của tế bào ung thư trong khi hạn chế tối đa sự phá hủy tế bào khỏe mạnh.

Những nghiên cứu gần đây cho thấy, không phải tất cả khối u đều có cùng đích đến. Do đó, để tìm ra liệu pháp nào là hiệu quả nhất, bác sĩ sẽ phải tiến hành thử nghiệm, kiểm tra xác định Gen, protein và những yếu tố khác của khối u. Điều này giúp bác sĩ xác định liệu pháp điều trị hiệu quả nhất. Thêm vào đó, rất nhiều nghiên cứu đã và đang được tiến hành để xác định những tế bào đích đặc thù và những liệu pháp điều trị mới hướng đích trực tiếp đến những tế bào đó.

Dưới đây là 3 phương pháp điều trị đích phổ biến nhất:

  • Liệu pháp ức chế tân tạo mạch
  • Ức chế thụ thể của yếu tố tăng trưởng thượng bì
  • Thuốc tác động lên những thay đổi Gen khác.

Liệu pháp miễn dịch

Hay còn được gọi là liệu pháp sinh học, phương pháp này giúp tăng cường sức tấn công của hệ phòng thủ tự nhiên trong cơ thể. Phương pháp này sử dụng các nguyên liệu được lấy từ cơ thể hoặc điều chế trong phòng thí nghiệm để củng cố, hướng đích hoặc phòng hồi chức năng hệ miễn dịch. Ví dụ, con đường PD-1 đóng vai trò quan trọng trong việc tăng khả năng kiểm soát tế bào ung thư của hệ miễn dịch. Ngăn chặn con đường PD-1 và PD-L1 giúp chặn hoặc giảm sự phát triển của ung thư phổi không tế bào nhỏ ở một số bệnh nhân.
Nivolumab (Opdivo) là thuốc đầu tiên của nhóm này được sử dụng cho bệnh nhân ung thư phổi không tế bào nhỏ.

  • Pembrolizumab (Keytruda) là một loại thuốc khác trong nhóm được sử dụng cho bệnh nhân k phổi.
  • Pembrolizumab (Keytruda) cũng là một loại thuốc khác được sử dụng cho ung thư phổi không tế bào nhỏ giai đoạn xâm lấn.

Điều trị ung thư phổi không tế bào nhỏ theo giai đoạn:

Giai đoạn I và II. Nhìn chung, giai đoạn này được điều trị bằng phương pháp phẫu thuật. Bác sĩ phẫu thuật có thể cứu rất nhiều bệnh nhân chỉ với một cuộc phẫu thuật. Trước hoặc sau phẫu thuật, bệnh nhân sẽ được gặp trò chuyện với bác sĩ. Một số bệnh nhân có khối u lớn hoặc có dấu hiệu khối u đã xâm lấn đến các hạch bạch huyết cần phải tiến hành hóa trị. Hóa trị có thể được tiến hành trước phẫu thuật giúp thu nhỏ kích thước khối u. Cũng có thể hóa trị được tiến hành sau phẫu thuật để giảm thiểu nguy cơ ung thư tái phát. Xạ trị cũng có thể được tiến hành trong trường hợp phẫu thuật không khả thi.

Giai đoạn III ung thư phổi không tế bào nhỏ: Có tới hơn 30.000 bệnh nhân bị chẩn đoán ung thư phổi giai đoạn III mỗi năm và không có một phương pháp điều trị nào gọi là tốt nhất cho giai đoạn này cả. Phác đồ điều trị sẽ phụ thuộc vào kích thước khối u, vị trí và số hạch di căn. Những liệu pháp được gợi ý là:

  • Xạ trị
  • Hóa trị
  • Phẫu thuật

Nhìn chung, bệnh nhân ung thư phổi không tế bào nhỏ giai đoạn III tiến hành ít nhất 2 liệu pháp điều trị, đôi khi sẽ là 3 phương pháp. Việc kết hợp hóa và xạ trị thường được cân nhắc.

Phẫu thuật có thể là một lựa chọn sau khi tiến hành hóa trị ban đầu. Nhiều trường hợp phẫu thuật được tiến hành trước , đặc biệt khi tế bào ung thư bất ngờ được phát hiện trong các hạch bạch huyết sau khi bệnh nhân được chẩn đoán ban đầu ở giai đoạn I và II. Nếu điều đó xảy ra, việc tiến hành phẫu thuật thường theo sau là hóa trị hoặc xạ trị.

Ung thư phổi không tế bào nhỏ giai đoạn IV hoặc đã di căn.

Bệnh nhân giai đoạn IV thường không phẫu thuật hoặc xạ trị. Một số trường hợp, bác sĩ có thể đề nghị phẫu thuật cho khối u di căn ở não hoặc tuyến thượng thận nếu đó là vị trí duy nhất mà ung thư di căn. Bệnh nhân ung thư giai đoạn IV có nguy cơ rất cao ung thư di căn đến các bộ phận khác trong cơ thể. Đa số bệnh nhân ung thư phổi trong giai đoạn này chỉ tiến hành hóa trị.

Xạ trị cho khối u ung thư di căn não. Hóa trị thường không hiệu quả bằng xạ trị hoặc phẫu thuật trong trường hợp ung thư phổi không tế bào nhỏ di căn lên não. Vì lý do đó, đa phần bệnh nhân ung thư phổi không tế bào nhỏ di căn não được điều trị bằng xạ trị, phẫu thuật hoặc cả 2. Đa số bệnh nhân ung thư phổi di căn não điều trị xạ trị toàn não. Điều này có thể dẫn đến rụng tóc, mệt mỏi… Với những khối u nhỏ, người ta có thể tiến hành xạ trị đích giúp giảm thiểu tác dụng phụ.

 

Tác dụng phụ

Tác dụng phụ của việc điều trị cho bệnh nhân ung thư phổi phụ thuộc nhiều vào phương pháp điều trị cho bệnh nhân và thường có những biểu hiện khác nhau đối với mỗi trường hợp cụ thể. Tác dụng phụ sau điều trị ung thư phổi thường là tạm thời và các bác sĩ, y tá sẽ giải thích kỹ càng những tác dụng phụ hay gặp trong quá trình điều trị cũng như gợi ý những cách thức giúp giảm nhẹ triệu chứng cho bệnh nhân.

Những tác dụng phụ bệnh nhân có thể gặp phải:

1 – Những tác dụng phụ liên quan đến thể chất.

Đối phó với những tác dụng phụ liên quan đến thể chất bao gồm đau, nôn, mệt mỏi, thiếu máu, nhiễm trùng… được miêu tả đầy đủ tại NHỮNG TÁC DỤNG PHỤ PHỔ BIẾN KHI ĐIỀU TRỊ UNG THƯ

2 – Đối phó với những tác động tâm lý, xã hội.

Bên cạnh những tác động về mặt thể chất, điều trị ung thư cũng ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống tinh thần người bệnh. Những sang chấn tâm lý bao gồm: Sợ hãi, tức giận, stress…

Bệnh nhân và người nhà của họ luôn được khuyến khích chia sẻ cảm xúc của mình nhiều hơn với những thành viên khác cũng như với các y bác sĩ. Bạn có thể tham khảo thêm cách đối mặt với cú sốc tâm lý để hiểu hơn những điều cần làm sau khi chẩn đoán ung thư.

3 – Vấn đề tài chính.

Điều trị ung thư có thể sẽ tốn kém, và là gánh nặng tâm lý không chỉ bệnh nhân và cả gia đình của họ. Ngoài chi phí điều trị, bệnh nhân phải trả khá nhiều chi phí phát sinh trong đó có chi phí đi lại, nhà ở, ăn uống… Một số bệnh nhân phải dừng điều trị do điều kiện kinh tế không cho phép. Hiện nay chế độ bảo hiểm đã thanh toán giải quyết phần nào vấn đề tài chính và đa số bệnh nhân ung thư đều dùng bảo hiểm. Ngoài ra, bệnh nhân có thể tìm đến những tổ chức từ thiện, những chương trình hỗ trợ hay những thử nghiệm lâm sàng để được hỗ trợ nhiều hơn về mặt tài chính.

4 – Chăm sóc cho một người thân bị ung thư

Những thành viên trong gia đình và bạn bè đóng một vai trò vô cùng quan trọng trong việc chăm sóc bệnh nhân ung thư phổi không tế bào nhỏ. Người chăm sóc có thể hỗ trợ bệnh nhân về mặt tâm lý cũng như thể chất dù cho họ có ở xa hay gần.

Người chăm sóc thường chịu trách nhiệm về khá nhiều vấn đề liên quan đến chăm sóc người bệnh như:

– Thường xuyên động viên và khích lệ
– Quan tâm đến lịch trình uống thuốc của bệnh nhân
– Giúp bệnh nhân kiểm soát những tác dụng phụ
– Là tài xế, xe ôm cho bệnh nhân trong những ngày đến viện.
– Hỗ trợ bệnh nhân về mặt ăn uống, dinh dưỡng
– Làm việc nhà
– Những vấn đề liên quan đến giấy tờ, bảo hiểm, thanh toán…

Do đó, những người trực tiếp chăm sóc bệnh nhân ung thư cũng rất cần được hỗ trợ, có những lúc họ cũng rất căng thẳng, rất buồn, rất bận bịu và vất vả. hiểu được những điều đó, những thành viên khác trong gia đình không chỉ cần động viên bệnh nhân mà còn động viên cả những người ngày đêm chăm sóc.

5 – Nói chuyện với bác sĩ về những tác dụng phụ bệnh nhân gặp phải.

Trước khi bắt đầu điều trị, hãy trao đổi với bác sĩ về những tác dụng phụ có thể gặp phải. Những câu hỏi cần trao đổi:

– Những tác dụng phụ nào có thể xảy ra nhất?
– Chúng thường xuất hiện vào thời điểm nào?
– Chúng ta có thể làm gì để hạn chế tác dụng phụ?

 

Theo dõi chăm sóc

TRÊN TRANG NÀY: bạn sẽ tìm thấy những thông tin chăm sóc sức khỏe sau khi điều trị kết thúc, và tại sao chăm sóc sau điều trị lại quan trọng?

Chăm sóc cho bệnh nhân ung thư chưa dừng lại ở các phác đồ điều trị của bác sĩ. Đội ngũ y bác sĩ sẽ tiếp tục kiểm tra thường xuyên để đảm bảo rằng khối u không quay lại, kiếm soát tác dụng phụ và kiểm soát sức khỏe tổng thể. Những công việc trên được gọi là chăm sóc sau khi ra viện.

Việc chăm sóc này bao gồm cả những kiểm tra thể chất định kỳ, các xét nghiệm sinh hóa để kiểm soát sự phục hồi cơ thể  cho những năm tháng tiếp theo.

THEO DÕI TÁI PHÁT

Một trong những mục tiêu của chăm sóc sau khi ra viện là kiểm tra phòng ngừa ung thư tái phát. Ung thư tái phát vì một phần nhỏ tế bào ung thư đã bị bỏ sót và không thể phát hiện được bằng các kĩ thuật xét nghiệm chẩn đoán. Qua thời gian, những tế bào này có thể tăng lên về số lượng cho đến khi các thiết bị xét nghiệm có thể phát hiện được chúng và lúc đó có thể khối ung thư tái phát đã gây ra triệu chứng bất thường trong cơ thể.

Trong quá trình theo dõi sau điều trị, một bác sĩ trong nhóm điều trị cũ của bạn sẽ cho bạn biết tỷ lệ nguy cơ ung thư của bạn tái phát. Hiểu về nguy cơ ung thư tái phát và những phương pháp điều trị giúp bạn chuẩn bị tốt hơn trong trường hợp ung thư quay trở lại và giúp bạn có quyết định dễ dàng hơn trong việc điều trị.

Bệnh nhân ung thư phổi có nguy cơ cao phát triển khối u ở phổi còn lại. Bác sĩ  có thể lưu ý bạn tâm soát thường xuyên để sớm phát hiện những dấu hiệu bất thường của khối u tái phát.

Kiểm soát những tác dụng phụ muộn hoặc tác dụng phụ kèo dài

Đa số bệnh nhân ung thư xuất hiện tác dụng phụ khi điều trị. Tuy nhiên, một điều khiến nhiều bệnh nhân ngạc nhiên là một số số tác dụng phụ có thể kéo dài sau khi điều trị. Thêm vào đó, có những tác dụng phụ lại xuất hiện rất muộn, sau vài tháng thậm chí cả năm sau khi điều trị mới xuất hiện.

Hãy trao đổi với bác sĩ về rủi ro xuất hiện những tác dụng phụ như vậy liên quan đến bệnh của bạn, liệu trình điều trị của bạn và sức khỏe tổng thể của bạn.  Nếu bạn đang sử dụng một phương pháp điều trị được biết là gây nhiều tác dụng phụ muộn hoặc lâu dài, bạn cần có những kiểm tra thể chất, chụp chiếu hoặc kiểm tra máu để kiểm tra và kiểm soát chúng.

Đa số những tác dụng phụ sau điều trị là đau, mệt mỏi, khó thở. Bác sĩ, y tá, những nhà hoạt động xã hội có thể giúp bạn xây dựng một kế hoạch để kiểm soát bất kỳ tác dụng phụ nào sau điều trị.

Những bệnh nhân thoát khỏi ung thư phổi không tế bào nhỏ mà đã từng hút thuốc lá có nguy cơ cao mắc các bệnh tim mạch, đột quỵ và các bệnh mãn tính khác. Những liệu pháp điều trị ung thư hiện tại có thể làm tăng nguy  cơ mắc các bệnh trên. Thậm chí những người chưa từng hút thuốc lá, việc xây dựng một lối sống đẹp là vô cùng quan trọng cho một cuộc sống sau điều trị tốt hơn.

Theo dõi sức khỏe thường xuyên

Bạn và bác sĩ của bạn cần làm việc với nhau để xây dựng một kế hoạch chăm sóc sau điều trị. Kế hoạch chăm sóc sau điều trị cần được lên rõ ràng, cả về chê độ ăn uống, chế độ vận động, chế độ sinh hoạt và cả chế độ dùng thuốc theo chỉ định của bác sĩ. Tuyệt đối không nên tìm mua những sản phẩm không rõ nguồn gốc, không được chứng minh, nghiên cứu khoa học đầy đủ.

Chúc bạn và gia đình luôn mạnh khỏe!

Sống khỏe sau hóa xạ trị

Thế nào là thoát khỏi ung thư?

Từ này có ý nghĩa rất khác nhau tùy thuộc từng người. Có 2 định nghĩa phổ biến nhất:

  • Không còn triệu chứng ung thư sau khi kết thúc điều trị
  • Quá trình sống với, vượt qua và thoát khỏi ung thư. Theo đó, thoát khỏi ung thư bắt đầu từ thời điểm chẩn đoán và bao gồm những người vẫn tiếp tục ó những điều trị lâu dài để giảm thiểu nguy cơ tái phát hoặc để kiếm soát bệnh mãn tính.

Ở một khía cạnh nào đó, thoát khỏi ung thư là một trong những yếu tố phức tạp nhất của điều trị ung thư vì nó rất khác nhau ở các bệnh nhân.

Những người sống sót có thể trải qua những xáo trộn về cảm xúc, bao gồm cả sự hào hứng, sự lo lắng, sự thoải mái, hay cả sự sợ hãi. Nhiều bệnh nhân ung thư nói rằng họ cảm thấy yêu cuộc đời hơn sau khi bị chẩn đoán ung thư. Một số khác trở nên rất hoảng loạn, lo lắng về sức khỏe của họ và cũng không biết được họ sẽ phải đối mặt với cuộc sống phía trước như thế nào? Một số khác cố gắng bỏ qua tất cả, xem như cuộc sống của mình vẫn tiếp diễn bình thường.

Những người thoát khỏi ung thư có thể bị stress (căng thẳng) khi phải khám định kỳ thường xuyên và điều trị sau khi xuất viện.

Mỗi bệnh nhân ung thư sau khi thoát án tử đều có những nỗi lo và những thách thức riêng, với mỗi thách thức, điều quan trọng đầu tiên là phải nhận thức được nỗi sợ hãi và chia sẻ nỗi sợ hãi đó với gia đình và bác sĩ. Bạn cần:

  • Hiểu về những thách thức mà bạn đang phải đối mặt
  • Nghĩ về những giải pháp
  • Hỏi ý kiến bác sĩ và tuân thủ điều trị của bác sĩ
  • Hãy để mình cảm thấy thoải mái với những lựa chọn của bạn

Rất nhiều bệnh nhân thoát khỏi ung thư cảm thấy an tâm hơn khi có một nhóm bác sĩ chuyên khoa hỗ trợ hoặc một cộng đồng ung thư trên mạng như cộng đồng “Cuộc chiến ung thư” do Chiến binh Trần Đồng (bệnh nhân thoát khỏi ung thư vòm họng). Điều này cho phép bạn trò chuyện với những người có cùng hoàn cảnh.

Vai trò của người chăm sóc

Người chăm sóc đóng vai trò rất quan trọng trong việc hỗ trợ người bệnh bị chẩn đoán ung thư, hỗ trợ thể chất, tinh thần, chăm sóc hàng ngày hay cho những nhu cầu căn bản. Tuy nhiên, khi điều trị đã kết thúc, vai trò của người chăm sóc thường thay đổi. Cuối cùng, sự cần thiết của người chăm sóc liên quan đến chẩn đoán ung thư sẽ giảm dần hoặc không cần thiết.

Thay đổi lối sống

Đối với rất nhiều người, việc thoát khỏi ung thư là động lực vô cùng lớn để học thay đổi lối sống của bình. Bệnh nhân ung thư tiền liệt tuyến sau khi đã hồi phục được khuyến khích tuân thủ một hướng dẫn chăm sóc sức khỏe chuẩn, ví dụ như: Không hút thuốc, ăn uống lành mạnh, kiểm soát stress, điều chỉnh hoạt động thể chất giúp phục hồi sức khỏe và năng lượng sống.

Bạn nên tham khảo ý kiến bác sĩ về những bài tập thể dục phù hợp với mình, phù hợp với nhu cầu của bạn, tình trạng thế chất hiện tại… Đa số bệnh nhân cảm thấy việc tập thể dụng với những người bạn sẽ khiến họ cảm thấy thoải mái và dễ theo đuổi lâu dài hơn.

Những thông tin trên đây chỉ mang tính tham khảo, bạn nên hỏi ý kiến bác sĩ trước khi quyết định sử dụng thuốc hay bất kỳ liệu pháp nào đó.

Đối tác

Loading..